Đế Quốc Bắc Phương Thôn Tính Biển Đông, Đại Hán Trên Đường Suy Thoái
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
Trở Về Với Nhân
Loại Văn Minh?
Ngày 13-5-2009 là thời hạn cuối cùng cho các quốc gia duyên hải đăng kư
đơn yêu cầu Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc cho mở rộng
thềm lục địa từ 200 hải lư đến mức 350 hải lư. Đến ngày đó có hơn 50
quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc đă đệ đơn thỉnh nguyện (submission), hoặc từng phần hoặc toàn bộ, về việc định ranh thềm lục địa cho quốc gia
ḿnh.
Sau những tính toán và do dự, vào ngày chót Trung Quốc đă đệ đơn thỉnh
nguyện tại Ủy Ban Phân Ranh. Đơn nạp chậm nhưng không trễ.
Từ năm 1994 khi Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển có hiệu lực chấp
hành, Bắc Kinh không bao giờ lư vấn đến Công Ước mà họ đă kư tại Đại Hội
Liên Hiệp Quốc về Luật Biển Kỳ III năm 1982. Năm 1992, họ tự tiện ban
hành Luật Biển áp dụng riêng cho Trung Quốc, bất chấp các điều khoản và
các thủ tục điều giải và tố tụng quy định trong Công Ước. Đó là những
phương thức ôn ḥa và đối thoại b́nh đẳng áp dụng cho các quốc gia văn
minh trên thế giới dầu có gia nhập Công Ước hay không. Đối với các quốc
gia không kư Công Ước Luật Biển, các quy luật cố định của Luật Tục Lệ
Quốc Tế do Ṭa Án Quốc Tế The Hague ban hành vẫn có giá trị toàn cầu. Ba
nguyên lư căn bản trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, Ḥa B́nh, Hữu Nghị
và Công Lư, có hiệu lực đối với tất cả các quốc gia hội viên Liên Hiệp
Quốc. Riêng về Luật Biển các đường lối giải quyết mâu thuẫn và tranh
chấp là ḥa giải, điều đ́nh và thỏa hiệp. Sau mới nhờ tới các cơ quan
trọng tài và ṭa án về Luật Biển.
V́ vậy, do hành vi đệ đơn thỉnh nguyện, Trung Quốc đă minh thị thừa nhận
thẩm quyền của Liên Hiệp Quốc qua Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa. Mà
không thừa nhận sao được, v́ Trung Quốc vẫn tự hào là một hội viên
thường trực của Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết?
V́ đă thừa nhận Công Ước, từ nay Trung Quốc phải tuân hành Công Ước với
những điều khoản và những phương thức điều giải và tố tụng nêu trên. Một
trong những phương thức này là không sủ dụng bạo hành vơ trang.
Dầu sao đây cũng là một bước tiến đáng kể choTrung Quốc có cơ hội trở về
với nhân loại văn minh.
Mà nếu đă chịu tuân hành Luật Pháp Quốc Tế và Luật Tục Lệ Quốc Tế th́ từ
đây về sau, Trung Quốc không c̣n được sử dụng Luật Rừng Xanh của loài
cầm thú và loài tôm cá, với mạnh được yếu thua và cá lớn nuốt cá bé.
Nh́n lại lịch sử cận kim, trong thập niên 1960, cuộc Cách Mạng Văn Hóa
đă phá nát Trung Quốc về văn hóa, kinh tế, nhân sự và những giá trị tinh
thần. Qua thập niên 1970 Trung Quốc bắt đầu phục hồi. Được gia nhập Liên
Hiệp Quốc năm 1971 thay thế Đài Loan, Trung Quốc trở thành một ngũ cường.
Sau khi thiết lập bang giao với Hoa Kỳ năm 1979, Trung Quốc hội nhập vào
cộng đồng thế giới. Từ đó, với chính sách
"mèo đen mèo trắng" của Đặng
Tiểu B́nh, chủ nghĩa xă hội độc quyền bị thay thế bởi chủ nghĩa thực
dụng về mặt kinh tế.
Vấn Đề Thềm Lục Địa
Năm 1982, phái đoàn Trung Quốc đến Montego Bay Jamaica tham dự Đại Hội
Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Lúc này các cường quốc Anh, Mỹ không kư
Công Ước v́ họ chưa thỏa măn về quy chế khai thác hải sản tại biển sâu
ngoài vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia duyên hải.
Ba ngũ cường c̣n lại, Liên Sô, Pháp và Trung Quốc đóng vai chủ chốt. Tự
ái quốc gia được thỏa măn, Trung Quốc hoan hỷ kư Công Ước. Kư xong Trung
Quốc mới thấy lo. Kư Công Ước th́ phải theo Công Ước. Những điều khoản
Công Ước lại quá rơ rệt: Các quốc gia duyên hải chỉ được hưởng quy chế
12 hải lư Biển Lănh Thổ và 200 hải lư vùng Đặc Quyền Kinh Tế để đánh cá
đồng thời là Thềm Lục Địa 200 hải lư để thăm ḍ và khai thác dầu khí.
Tại Biển Nam Hoa hay Biển Đông Nam Á mà người Việt gọi là Biển Đông, từ
các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về Hoa Lục có 2 rănh biển sâu tới
2600m trong hải phận Hoàng Sa phía bắc, và sâu hơn 5000m tại hải phận
Trường Sa phía nam. Theo Ṭa Án Quốc Tế The Hague và Công Ước Liên Hiệp
Quốc về Luật Biển, v́ đáy biển không phải là sự tiếp nối tự nhiên của
lục địa từ đất liền ra ngoài biển, Trung Quốc không có triển vọng đ̣i mở
rộng thềm lục địa pháp lư 200 hải lư thành thềm lục địa địa chất 350 hải
lư tính từ Biển Lănh Thổ ra khơi.
Trong mọi trường hợp, các hải đảo Trường Sa nằm quá xa bờ biển Trung
Quốc, (từ 550 hải lư đến 900 hải lư) nên không thuộc chủ quyền lănh thổ
của Trung Quốc. Vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa có triển vọng có dầu khí
do các chất hữu cơ tích lũy trong các thủy tra thạch (sediment) từ các
nguồn nước phù sa Sông Hồng Hà và Sông Cửu Long, con sông dài nhất Đông
Nam Á, từ cao nguyên Tây Tạng đổ ra biển. Không có con sông lớn nào từ
đảo Hải Nam hay từ Hoa Lục chẩy ra Biển Đông.
Trong khi đó, tại vùng bờ biển Việt Nam, thềm lục địa địa chất hay nền
lục địa (continental margin) chạy thoai thoải từ dẫy Trường Sơn ra vùng
biển Hoàng Sa phía đông Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngăi. Độ
sâu nhất quanh đảo Hoàng Sa là 900m. Về mặt địa chất và địa h́nh đáy
biển, các đảo Hoàng Sa là một hành lang của dẫy Trường Sơn chạy từ Cù
Lao Ré ra các đảo Tri Tôn, Hoàng Sa và Phú Lâm. Đây là những cao nguyên
của thềm lục địa Việt Nam trên mặt biển. Năm 1925 nhà địa chất học quốc
tế, Tiến Sĩ Khoa Học A. Krempt, Giám Đốc Viện Hải Học Đông Dương, sau
hai năm nghiên cứu về địa chất, đo đạc và vẽ bản đồ hải đảo và đáy biển,
đă lập phúc tŕnh và kết luận "Về mặt địa chất những đảo Hoàng Sa là
thành phần của Việt Nam" (Géologiquement les Paracels font partie du
Vietnam).
Tại Trường Sa cũng vậy. Về mặt địa chất, độ sâu và địa h́nh đáy biển,
các đảo Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất
liền ra ngoài biển. Tại băi Tứ Chính nơi khai thác dầu khí, biển sâu
không tới 400m, và tại vùng đảo Trường Sa và cồn An Bang, độ sâu chỉ tới
200m. Băi Tứ Chính nằm cách bờ biển Việt Nam 190 hải lư và cách lục địa
Trung Hoa 800 hải lư. Như đă tŕnh bày, Trường Sa cách Hoa Lục bằng một
rănh biển sâu tới 5062m, nên không được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở
Rộng (Extended Continental Shelf). Mà dầu có mở rộng tối đa đến mức 350
hải lư, cũng không lấp được khoảng trống 800 hải lư từ đất liền ra hải
đảo. V́ những lư do nói trên, các đảo Trường Sa không thuộc chủ quyền
lănh thổ của Trung Quốc trong mọi trường hợp.
Đuối về pháp lư, Trung Quốc không bao giờ đặt vấn đề tranh luận công
khai về Biển Đông với các quốc gia Đông Nam Á. Mà cũng không dám đưa vụ
tranh chấp hải đảo tại Nam Hải ra trước các cơ quan ḥa giải, trọng tài
hay tố tụng như Ủy Ban Ḥa Giải, Hội Đồng Trọng Tài hay Ṭa Án Luật Biển.
Đó cũng là nhận định của học giả Trung Quốc Lô Chi-Kin trong Luận Án
Tiến Sĩ đệ tŕnh Đại Học Kinh Tế Chính Trị Luân Đôn năm 1986:
"On its
position over the islands, China has been most reluctant to subject the
disputes to international legal arbitration".
Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc.
Căn cứ vào những điều kiện tâm lư nói trên, chúng ta ghi nhận Trung Quốc
đă tiến bộ khi nạp đơn thỉnh nguyện ngày 13-5-2009 tại Ủy Ban Phân Ranh
Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên họ chỉ xuất tŕnh mỗi một tấm Bản
Đồ Lưỡi Ḅ để đ̣i chủ quyền hải phận theo h́nh lưỡi ḅ mà trước kia họ
gọi là Biển Lịch Sử hay Lưỡi Rồng Trung Quốc.
Năm 1982, sau khi kư Công Ước về Luật Biển, Bắc Kinh tập hợp 400 học giả
Trung Quốc, ngày đêm nghiên cứu, thảo luận trong suốt 10 năm để kết luận
rằng Nam Hải là biển lịch sử của Trung Hoa từ hơn 2000 năm. Rồi họ hội
nghị với 100 nhà trí thức Đài Loan để nhất trí xác nhận sự kiện lịch sử
này.
Theo Bắc Kinh, Lưỡi Rồng Trung Quốc có một diện tích bao la bằng phân
nửa lục địa Trung Hoa. Nó chiếm hơn 80% hải phận Biển Đông Nam Á, cách
bờ biển Quảng Ngăi (Việt Nam) 40 hải lư, cách Natuna (Nam Dương) 30 hải
lư, cách Sarawak (Mă Lai) và Palawan (Phi Luật Tân) 25 hải lư. Nó chiếm
trọn 3 túi dầu khí đang khai thác là Băi Tứ Chính (Vanguard Bank) của
Việt Nam, băi Natuna của Nam Dương và băi Cỏ Rong (Reed Bank) của Phi
Luật Tân.
Chiếu Điều 76 và 77 Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, các quốc gia
duyên hải có chủ quyền tuyệt đối và đặc quyền chuyên hữu 212 hài lư (gồm
12 hải lư Biển Lănh Thổ và 200 hải lư Thềm Lục Địa) tính từ đường cơ sở
của bờ biển quốc gia (thông thường là mực nước thủy triều xuống thấp).
Trong trường hợp này Lưỡi Ḅ Trung Quốc đă
"liếm sâu" 172 hải lư vào
thềm lục địa Việt Nam, 182 hải lư vào thềm lục địa Nam Dương và 187 hải
lư vào các thềm lục địa của Mă Lai và Phi Luật Tân. Đây là những vi phạm
thô bạo vào chủ quyền lănh thổ của 4 quốc gia hội viên của Hiệp Hội các
Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN). Để chống lại âm mưu xâm lấn thô bạo này, sự
kết hợp giữa Việt Nam phía Tây và các quốc gia phía Đông Nam như Nam
Dương, Mă Lai, Brunei và Phi Luật Tân là việc phải làm.
Đó là Sách Lược Bắc Cự Bá Quyền.
Kết Hợp Đông Nam.
Thuyết Biển Lịch Sử của Trung Quốc khiến chúng ta liên tưởng đến Thuyết
Biển Lịch Sử Địa Trung Hải của Đế Quốc La Mă hồi đầu thế kỷ thứ nhất. La
Mă gọi Địa Trung Hải là "Biển của Chúng Tôi" (Mare Nostrum). Vùng biển
này c̣n rộng hơn cả Biển Đông Nam Á. Nó chạy từ Tây Ban Nha qua Pháp, Ư,
Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ đến toàn vùng biển Trung Đông và Bắc Phi.
Khách quan mà xét, trong thế kỷ 21, nếu c̣n nói đến Biển Lịch Sử Trung
Quốc tại Đông Nam Á th́ chỉ là đại ngôn hay một tṛ hề lố bịch. Lư do
giản dị và dễ hiểu là Biển Đông Nam Á tọa lạc tại miền nhiệt đới Đông
Nam Á, trong khi Trung Hoa nằm giữa miền ôn đới với Đông Trung Quốc Hải,
Biển Hoàng Hải và Bắc Hải.
Tranh Nghị hay Bất Khả Tranh Nghị?
Điều khôi hài hơn nữa là, sau khi đ̣i cưỡng chiếm hơn 80% hải phận Biển
Đông Nam Á mà không viện dẫn được điều khoản hay nguyên tắc nào của Công
Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển hay của Ṭa Án Quốc Tế The Hague, Bắc
Kinh c̣n vơ đoán khẳng định rằng vấn đề chủ quyền của Trung Quốc tại
biển Nam Hải là bất khả tranh nghị!
Trong kỷ nguyên hiện nay, với Luật Pháp Quốc Tế thay thế Luật Rừng Xanh,
và với hội trường thay thế chiến trường, chúng ta khẳng định rằng không
có điều ǵ, việc ǵ hay vấn đề ǵ là bất khả tranh nghị theo lối cả vú
lấp miệng em của phe bá quyền Trung Quốc. Luận điệu này chỉ có thể đưa
ra trong những triều đại độc tài phong kiến và độc tài đảng trị đời Tần
Thủy Hoàng, Hán Vũ Đế, Minh Thành Tổ và Mao Trạch Đông.
Rút kinh nghiệm sinh hoạt nghị trường và sinh hoạt hội đoàn, mọi người
đồng ư rằng có tranh luận mới t́m ra Chân Lư. Theo lời minh triết của cổ
nhân "Từ tranh luận mới nẩy ra ánh sáng và sự thật." (De la discussion
jaillit la lumière; Light flashes from discussion; Truth springs from
discussion). Sở dĩ ngày nay Bắc Kinh không dám tranh luận v́ không có cơ
sở pháp lư để đ̣i cưỡng chiếm hơn 80% thềm lục địa của các quốc gia ven
bờ biển Đông Nam Á. Hơn nữa Điều 77 Luật Biển công nhận thềm lục địa
thuộc chủ quyền tuyệt đối của các quốc gia duyên hải mà ngoại bang không
được quyền cưỡng chiếm.
Điều mà chúng ta muốn nhắn nhủ nhà cầm quyền Bắc Kinh là Thuyết Biển
Lịch Sử ngày nay đă bị nhân loại văn minh vứt vào thùng rác lịch sử.
Thật vậy, áp dụng Luật Tục Lệ Quốc Tế và Công Pháp Quốc Tế, Ṭa Án Quốc
Tế The Hague và Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển đă minh thị phán
quyết và quy định như sau:
"Biển Lịch Sử là nội hải tọa lạc về phía bên trong đất liền, hay về phía
bên trong đường cơ sở của biển lănh thổ (The International Court of
Justice has defined "historic waters" as "internal waters". Waters on
the landward side of the baseline of the territorial sea form part of
the internal waters of the State": UK vs. Norway, 1951, ICJ 116, 130;
Art. 8 LOS Convention 1982).
Và công tŕnh 10 năm nghiên cứu của 500 trí thức và học giả Trung Hoa
rốt cuộc chỉ là công "dă tràng se cát Biển Đông, nhọc
nhằn mà chẳng nên công cán ǵ!"
Như vậy Biển Đông Nam Á hay Nam Hải không phải là Biển Lịch Sử của Trung
Quốc v́ nó là ngoại hải, cách bờ biển Trung Hoa đến 2000km.
Vấn Đề Chính Danh: Chủ Quyền hay Vị Trí?
Nói về danh xưng, chúng ta phải đặt vấn đề chính danh. Biển Nam Hoa chỉ
là tên gọi do các nhà thám hiểm hàng hải quốc tế đặt ra khi họ vượt Ấn
Độ Dương qua Eo Biển Malacca tới Thái B́nh Dương. Trên bản đồ thế giới
có nhiều tên biển tương tự như vậy.
Từ thế kỷ 15 phong trào thám hiểm đại dương bột phát với Columbus tại Mỹ
Châu, Vasco de Gama và Magellan tại Á Châu.
Khi vượt Đại Tây Dương qua Mũi Hảo Vọng đến Ấn Độ Dương, các tàu xuyên
dương chạy tới vùng biển của các quốc gia duyên hải như Saudi Arabia,
Yemen, Iraq, Ba Tư, Ấn Độ, Thái Lan, Miến Điện, Mă Lai. Tại Ấn Độ Dương,
về phía tây bắc có biển Arabia (Arabian Sea) tiếp giáp Yemen, Oman,
Saudi Arabia, Iraq, Ba Tư. Như vậy, Biển Arabia không thuộc chủ quyền
riêng biệt của Saudi Arabia, cũng như Ấn Độ Dương không thuộc chủ quyền
riêng biệt của Ấn Độ.
Tại Thái B́nh Dương cũng vậy. Tại Biển Nhật Bản (Sea of Japan) các quốc
gia duyên hải là Nhật Bản, Đại Hàn, Bắc Hàn và Công Ḥa Nga nên không
thuộc chủ quyền riêng biệt của Nhật Bản.
Nói tóm lại về mặt danh xưng, nếu Ấn Độ Dương không thuộc chủ quyền
riêng biệt của Ấn Độ, Biển Nhật Bản không thuộc chủ quyền riêng biệt của
Nhật Bản, th́ Biển Nam Hoa hay Nam Hải (South China Sea) cũng không
thuộc chủ quyền riêng biệt của Trung Quốc. Biển này tiếp giáp các quốc
gia Đông Nam Á như Việt Nam, Tân Gia Ba, Nam Dương, Mă Lai, Brunei và
Phi Luật Tân.
Theo Tự Điển Từ Hải xuất bản năm 1948
"Nam Hải thuộc chủ quyền lănh thổ
chung của 5 quốc gia là Trung Quốc, Việt Nam, Mă Lai, Phi Luật Tân và
Đài Loan" (đúng ra là Nam Dương tại miền nhiệt đới). Khi các nhà thám
hiểm hàng hải quốc tế đến vùng biển gần Ấn Độ, họ gọi đó là Ấn Độ Dương.
Không phải để xác định chủ quyền hải phận của Ấn Độ, mà chỉ ghi nhận vị
trí vùng biển này tiếp giáp Ấn Độ.
Tại Thái B́nh Dương cũng vậy. Khi tầu vượt qua Eo Biển Malacca đến miền
duyên hải Trung Quốc, muốn cho tiện, họ gọi đó là Biển Nam Hải (ngoại
nhân xưng Nam Trung Quốc Hải). Mục đích chỉ để thông báo cho các thủy
thủ biết vị trí vùng biển này tiếp giáp Trung Quốc.
Về mặt lịch sử, từ đời Tần Thủy Hoàng, Nam Hải là một quận của Trung
Quốc thuộc tỉnh Quảng Đông, cách huyện Hải Phong 50 dặm về phía nam.
Theo các học giả Trung Quốc, Nam Hải, trước kia mang tên Trướng Hải, là
"vùng biển kéo dài từ Eo Biển Đài Loan đến Quảng Đông" The Southern Sea
stretches from the Taiwan Strait to Kwantung: A New Practical
Chinese-English Dictionary, Hongkong 1971).
Năm 1982, sau khi kư Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Trung Quốc
phủ nhận Công Ước bằng cách vẽ lại bản đồ và đ̣i chủ quyền lănh thổ toàn
vùng Biển Đông Nam Á, bất chấp mọi phản kháng của các quốc gia duyên hải
trong khu vực. Từ 1955, với Chính Sách Đại Hán do Mao Trạch Đông đề
xướng, Bắc Kinh coi Biển Nam Hải là một thứ nội hải của họ theo kiểu Đế
Quốc La Mă ngày xưa coi Địa Trung Hải là "Biển Của Chúng Tôi" (Mare
Nostrum).
Ngày nay thuyết Biển Lịch Sử chỉ c̣n là một khẩu thuyết vô bằng. Bàn về
yêu sách Lưỡi Rồng của Trung Quốc, các học giả tại Trung Tâm Hải Dương
Đông Tây (Hawaii) phải kêu lên rằng: "Không có điều khoản hay nguyên tắc
nào trong Công Pháp Quốc Tế cho phép Trung Quốc đ̣i như vậy!".
Ngày 13-5-2009 Chính Phủ Bắc Kinh nạp phúc tŕnh tại Ủy Ban Phân Ranh
Thềm Lục Địa, không phải để yêu cầu được hưởng quy chế Thềm Lục Địa Mở
Rộng 350 hải lư như 50 quốc gia duyên hải khác. Mà để đ̣i Liên Hiệp Quốc
xác nhận chủ quyền hải phận của họ từ bờ biển Quảng Đông, qua các bờ
biển Việt Nam, Nam Dương, Mă Lai, Brunei và Phi Luật Tân. Vùng hải phận
này chiếm hơn 80% Biển Đông Nam Á, dài hơn 900 hải lư và rộng hơn 600
hải lư. Theo ngoa ngôn của Bắc Kinh, nó có một diện tích bao la bằng
phân nửa toàn thể lục địa Trung Hoa.
Kết quả dễ thấy nhất là đơn thỉnh nguyện của Trung Quốc trước sau rồi
cũng sẽ bị Ủy Ban Phân Ranh Thềm Lục Địa Liên Hiệp Quốc không cứu xét
hay bác bỏ.
Việc Trung Quốc có thực sự muốn trở về với Nhân Loại Văn Minh hay không
c̣n là vấn đề chúng ta phải cảnh giác theo dơi.
Có điều hiển nhiên là, ngày nay, Đế Quốc Đại Hán đang đi trên đường suy
thoái.
Luật Sư Nguyễn Hữu Thống
Ủy Ban Luật Gia Việt Nam Bảo Vệ Dân Quyền
(Hạ tuần tháng 5-2009)