![]()
Fax: +493046795841 www.thongtinberlin.de - www.thongtinberlin.net - www.dvtnradio.com - www.dvtnradio.de
|
Kinh thưa quí Bác, quí Cô Chú, quí Anh
Chi Em Phật tử trên diễn đàn,
Chúng con (chúng tôi) xin được vô cùng đồng ư và hoan hỷ với lời nhận xét
góp ư của cư sĩ Phan Minh Tai về bài phê b́nh của Minh Di. Thật rất đáng tiếc cho bút gia Minh Di, có
lẻ v́ quá ưu tư nên sinh ra bực tức, mà đă có
lời lẻ hơi khiếm nhă không nên có cho Dịch giă Thích Như Điễn chăng?
Đây là một bài học rất đáng nhớ cho tất cả chúng ta. "Làm việc ǵ cũng phải
suy nghĩ đến hậu quả của nó". Cho dù bắt đầu bằng một khởi điểm tốt chăng
nữa, cũng nên cẩn thận cách dùng lời và ứng xử của ḿnh.
Tuy nhiên, phải chi chư Tôn Đức Tăng gia, khi làm Văn Hóa Phật Giáo cẩn thận
hơn, đừng khinh thường đọc giả, đừng chạy theo số lượng tác phẩm mà quên đi chất lượng, th́
đâu ra nông nổi. Cho đến bây giờ, dù đă có Cư sĩ Phan Minh
Tai giúp giùm một chút, nhưng làm sao Dịch giả TND khỏi được tai tiếng vốn
đă mang nhiều tai tiếng như thế này.
Quí Thầy, quí Ḥa Thượng dịch từ tiếng Hán, tiếng Nhật hay tiếng Anh, Pháp...
sang Việt Văn, phải luôn nhớ rằng, đọc giả không chỉ là thành phần không
biết ngoại ngữ, mà c̣n những thành phần rất chuyên nghiệp, rất rành rẻ... mà
họ chưa có điều kiện để in sách, như trường hợp của cây bút Minh Di chẳng
hạn. Chúng tôi chắc chắn rằng, sẽ c̣n rất nhiều Minh Di nữa, chứ không phải
1 Minh Di như thế đâu.
Âu đây cũng là một Tang Thượng Duyên hay Thắng Duyên cho t́nh h́nh Văn hóa
Phật Giáo Việt Nam hiện tại và tương lai.
Rat mong những tác phẩm dịch thuật khác sẽ không bị đem lên "bàn mổ" như tác
phẩm này nữa.
Mong lắm thay,
PT Nguyen C Hoa
---------------------------------------------------
Phê b́nh bản dịch của Thích Như Điển
(Chùa Viên Giác. Đức quốc).
01 – 101 (106).
Dẫn Nhập.
Năm đầu Niên hiệu Trinh Quan (627 - 649), Pháp sư Huyền Trang (600 - 664) theo sắc chỉ của Đường Thái tông (599 - 649; tại vị: 627 - 649) đi Thiên Trúc thỉnh Kinh Phật.
Huyền Trang đă từ Ngọc Môn Quan đi về hướng Tây để qua Thiên Trúc.
[Theo các Từ điển và Từ điển Lịch Sử th́ Huyền Trang sinh năm 602.
Ở đây tôi căn cứ Bản “Đại Đường Tây Vực Kư Hiệu Chú” của nhóm Quí Diễn Lâm].
- Vào khoảng đầu năm Giáp Th́n (năm 644) Huyền Trang rời Thiên Trúc về nước, để tới ngày 7 tháng Giêng năm Ất Tỵ (tức 645), nhằm năm thứ 19 Niên hiệu Trinh Quan th́ ông về tới Trường An, Kinh đô Đường triều, chở về mấy trăm bộ Phật Kinh.
Thời gian ở Thiên Trúc Huyền Trang học Phạn ngữ với Giới Hiền, và ông cũng từng có những cuộc biện luận với tăng chúng Thiên Trúc, tiếng tăm một thời tại nước này.
Trên đường đi, đi qua nước nào Huyền Trang cũng ghi lại vài gịng về Lịch sử, Địa lư cũng như thổ sản, phong tục, tập quán của nước đó, và nhất là về t́nh h́nh Phật giáo như t́nh trạng Chùa chiền, Tăng chúng, Tông phái, cũng như một vài nét về t́nh h́nh ngoại đạo ở các nước ông đi qua, và ông đă đi qua tất cả 139 nước, lớn nhỏ.
Đây là những ghi chép quí giá, 1 sử liệu rất giá trị về t́nh h́nh của một số nước ở vùng Trung Á và Ấn Độ thời cổ.
Khi về những ghi chép trên đây được sắp xếp lại để thành tác phẩm trứ danh ngày nay chúng ta biết là “Đại Đường Tây Vực Kư”. Về nước năm trước th́ tới tháng 5 (âm lịch) năm sau (646) Huyền Trang hoàn tất tác phẩm nói trên - được sư Biện Cơ ghi lại theo lời kể của ông.
&
Năm 2003, Thích Như Điển qua Úc, lưu lại 3 tháng, và ngồi dịch Bộ “Tây Vực Kư” này với sự “trợ dịch”, theo như Thích Như Điển ghi trong bản dịch, của 2 tỳ kheo là Thích Đồng Văn, Thích Hạnh Giới. Bản dịch này xuất bản năm 2004.
Nhập.
Đại Đường Tây Vực Kư có một bài Đề tựa của Trương Duyệt (667 - 730) đời Đường.
Cuối bài Đề tựa ghi:
- “Thượng thư Tả Bộc xạ Yên Quốc công vu Chí Ninh chế”.
Thích Như Điển phiên âm:
- “Thượng Thơ Tả Bộc Xạ Yến Quốc Công Trương Thuyết soạn”.
Chỉ một câu 11 chữ mà Thích Như Điển đă sai tới 2 lỗi về phiên âm Hán Việt:
1). Yến Quốc Công.
Phiên âm sai chữ “Yến” (Yên + dấu Sắc). Âm chính xác là “Yên” (không dấu giọng).
Chữ “Yến” (= chim én) phải đọc là “Yên” nếu chỉ Địa danh, ở đây tức chỉ nước Yên thời Chiến Quốc (403 - 221 tr. Cn), địa vực cổ hiện nay thuộc huyện Đại Hưng tỉnh Hà Bắc.
Do đó, cho đến hiện nay Yên cũng là biệt danh của tỉnh Hà Bắc.
Đây là phép gọi là Giả tá trong Lục Thư (6 phép tạo văn tự), tức mượn một chữ nhưng đọc âm khác. Âm đă khác do đó ư nghĩa cũng khác đi.
Giả tá c̣n gọi là Thông tá.
2). Trương Thuyết.
Chữ “Thuyết” (= Nói) ở đây phải đọc âm “Duyệt” (= Vui vẻ).
Ở đây cũng là trường hợp Giả tá đă nói trên.
#
Trên đây là điều căn bản. Căn bản mà c̣n Sai như thế th́ những chuyện khác th́ sao?
Tiếp đây tôi sẽ nói những chuyện khác đó trong bản dịch Việt văn Bộ “Tây Vực Kí” của Thích Như Điển, với sự trợ dịch của 2 tỳ kheo Thích Đồng Văn, Thích Hạnh Giới.
- Mỗi đoạn của nguyên tác tôi dẫn dịch văn của Thích Như Điển về đoạn này.
- Tiếp đến là phần dịch của tôi để độc giả đối chiếu.
- Tiếp đến nữa, trong điều mục có tiêu đề “+ Những cái Sai của Thích Như Điển” tôi sẽ phân tích từng câu trong phần dịch của Thích Như Điển, đối chiếu với nguyên tác, để độc giả có một nhận định thực chính xác về mức độ Sai lầm của Thích Như Điển!
Việc sau tuy trùng lập nhưng cần thiết, để độc giả có thể đối chiếu dễ hơn, và rơ hơn!
Trong “Lời tựa” cho bản dịch “Đại Đường Tây Vực Kư”, Thích Như Điển viết:
- “Quư vị đang cầm trên tay quyển “Đại Đường Tây Vức Kư” được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây.
Xin tạ ơn Tam bảo đă soi chiếu cho chúng con để lần ḍ từng câu văn từng ư chữ mà ngài Huyền Trang, một bậc danh tăng đời Đường đă thể hiện trọn vẹn hết tâm ư khi đi chiêm bái, học hỏi và ghi lại nơi Thánh Địa ṛng ră 17 năm trời...…”.
............ ......... ......... ......... ......... .........…
Chúng tôi được một điều là biết thêm tiếng Nhật, cho nên việc tra cứu có phần dễ hơn một ít. Riêng chữ Hán nào không rơ th́ phải tra tự điển cùng với Thầy Đồng Văn để làm cho rơ nghĩa trước khi dịch. Thầy Đồng Văn biết nhiều chữ Hán và đă tốt nghiệp Tiến Sĩ Phật Học ở Ấn Độ năm 2001 tại Đại Học New Delhi nên những phong tục tập quán và địa danh Thầy ấy tương đối rành rẽ.
Sau khi dịch xong chúng tôi trao qua Ḥa Thượng Thích Bảo Lạc, bào huynh của tôi cũng đă tốt nghiệp Đại Học Phật Giáo Thiền Tào Động (Komazawa) tại Nhật để xem lại cho thật kỹ một lần nữa, trước khi cho in thành sách. Cho nên có thể tin tưởng thêm một phần lớn của dịch phẩm này. Thêm vào đó, Hạnh Giới là đệ tử xuất gia của tôi cũng mới vừa tốt nghiệp Tiến Sĩ Triết Học về Tôn Giáo và Ngôn Ngữ Học tại Đại Học Hannover, Đức Quốc cũng đă phụ lực trong việc đánh máy, tham cứu bài vở.......…”.
(Trang 1 và trang 8).
~ Trong những trang phê b́nh sau đây tôi cũng sẽ “lần ḍ từng câu văn từng ư chữ” để coi bộ 4 dịch thuật, gồm Thích Như Điển cầm đầu đứng tên, 2 ông tiến sĩ trợ dịch và 1 ông ḥa thượng duyệt xét bản dịch, làm ăn ra làm sao? và nhất là để coi dịch phẩm của bộ 4 này “có thể tin tưởng thêm phần lớn” như lời của ông đứng tên hay không?
Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo.
Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo.
Nam mô thập phương thường trụ Tam Bảo.
Lạy Tổ Duy Thức Tông!
Nguyên tác. A Kỳ Ni Quốc 01 / 34.
- “A Kỳ Ni Quốc Đông Tây lục bách dư lí, Nam Bắc tứ bách dư lí. Quốc Đại Đô thành chu lục, thất lí, tứ diện cứ sơn , đạo hiểm, dị thủ. Tuyền, lưu giao đới, dẫn thủy vi điền.
Thổ nghi: môn, thử, túc mạch, hương tảo, bồ đào, lê, năi chư quả. Khí tự ḥa sướng, phong tục chất trực. Văn tự thủ tắc Ấn Độ, vi hữu tăng tổn..… Vương, ḱ quốc nhân dă, dũng nhi quả lược, hiếu tự xưng phạt. Quốc vô kỷ cương, Pháp bất chỉnh túc”.
/ Đại Đường Tây Vực Kư. Qu. I. A Kỳ Ni Quốc /.
Thích Như Điển dịch.
- “Nước A Kỳ Ni, đông tây hơn sáu trăm dặm. Nam bắc hơn bốn trăm dặm, chu vi của Thủ đô 67 dặm. Bốn phía bao bọc bởi núi non hiểm trở. Sông ng̣i ao hồ, lấy nước đó làm ruộng. Ruộng ấy cấy lúa. Trồng hoa, trồng nho, lê và các thứ cây ăn quả khác. Khí hậu điều ḥa, phong tục chất trực. Chữ nghĩa lấy từ tiếng Ấn Độ..… Vua của nước này là người dơng mănh mưu lược; nhưng nước không có kỷ cương, luật pháp không chỉnh đốn”.
(Trang 32).
Minh Di.
- “Nước A Kỳ Ni từ Đông qua Tây dài hơn 600 dặm, từ Nam lên Bắc xa hơn 400 dặm. Kinh Thành nước này chu vi 6, 7 dặm, bốn bề dựa núi, đường đi hiểm trở, (ở vị trí) dễ pḥng thủ. Sông, suối liền nhau, (dân ở đây) dẫn nước vào để làm ruộng. Thổ sản có: (lúa) kê, lúa nếp, lúa mạch, táo (tàu), nho, lê, táo, các thứ trái cây. Khí hậu ôn ḥa, dễ chịu, con người thành thực, thẳng thắn. Văn tự th́ theo qui tắc của chữ viết Ấn Độ, có sửa đổi đôi chút ...... Vua là người bản xứ, dũng cảm nhưng kém mưu lược, thích việc chinh phạt. Quốc gia th́ không phép tắc, Pháp luật th́ lỏng lẻo”.
[Phụ chú.
1 xích thời Huyền Trang tính ra hệ thống SI tương đương 0.311 m.
10 xích = 1 trượng = 3.11 m.
10 trượng = 1 dẫn = 31.10 m.
18 dẫn = 1 Lí = 18 x 31.10 m = 559.8 m, tức hơn nửa cây số một chút.
600 dặm = 600 x 559.8 = 335.88 km.
400 dặm = 400 x 559.8 = 223.92 km.
Vậy, diện tích của nước A Kỳ Ni = 335.88 km x 223.92 km = 75,210.249 km2].
+ Những cái Sai của Thích Như Điển.
Dịch sai, dịch thiếu.
~ Chu vi của Kinh thành A Kỳ Ni là khoảng 6 hoặc 7 dặm - chứ không phải là 67 dặm như Thích Như Điển dịch.
~ Thích Như Điển dịch thiếu 2 chữ “dị thủ”, nghĩa là dễ pḥng thủ.
~ Câu “Tuyền, lưu giao đới” Thích Như Điển dịch là “Sông ng̣i ao hồ” th́ không xuôi.
~ Thích Như Điển dịch thiếu 2 chữ “thổ nghi” (= thổ sản).
~ Vọng tả, vọng tả!
Thích Như Điển nói trong đoạn dịch trên đây của ông ta là xứ A Kỳ Ni “trồng hoa”.
Nếu vậy, xin Thích Như Điển chỉ cho tôi và độc giả chỗ nào trong nguyên tác dẫn trên nói tới việc “trồng hoa” mà ông vọng tả ra đó. Vọng tả, vọng tả!
~ Các thực vật, cây trái, thổ sản của xứ A Kỳ Ni nguyên tác liệt kê tất cả 7 thứ, nhưng Thích Như Điển chỉ dịch có 2 thứ là “nho” và “lê”.
~ Trong nguyên tác, tiếp liền sau câu “Văn tự thủ tắc Ấn Độ” (“Chữ viết theo Ấn Độ”) là câu “vi hữu tăng tổn”, nghĩa là “có sửa đổi đôi chút” - chẳng hiểu Thích Như Điển giấu câu sau này đi đâu mà không dịch?
Lại nữa, “Văn tự” mà Thích Như Điển dịch là “Chữ Nghĩa” th́ đúng xa rời chữ nghĩa!
~ Câu “Vương, ḱ quốc nhân dă”, Thích Như Điển dịch là “Vua của nước này”, dịch vậy vẫn chưa tận ư của nguyên tác, là nhấn mạnh ông vua nước này là dân bản xứ!
~ Sau cùng, Thích Như Điển lại tiếp tục dịch thiếu.
Trong nguyên tác: tiếp liền sau câu “dũng nhi quả lược” (“can đảm mà kém mưu lược”) là câu “hiếu tự xưng phạt”, nghĩa là “thích việc chinh phạt” - Câu sau này độc giả cũng không thấy Thích Như Điển dịch.
~ Nguyên tác: “Thổ nghi: môn, thử, túc mạch, hương tảo, bồ đào, lê, năi chư quả”.
- “Thổ sản có: (lúa) kê, lúa nếp, lúa mạch, táo (tàu), nho, lê, táo, các thứ trái cây”.
Thích Như Điển dịch:
- “Trồng hoa, trồng nho, lê và các thứ cây ăn quả khác”.
Thích Như Điển dịch vừa sai lại vừa thiếu! Nhưng ở đây tôi muốn nói thêm 1 điểm.
2 chữ “chư quả” chỉ các thứ trái cây “táo (tàu), nho, táo” liệt kê trước đó, không chỉ các thứ trái cây khác, Thích Như Điển hiểu chưa tới, tưởng như vậy. Nói rơ hơn, 2 chữ này được đặt ở sau để tóm lại những trái cây đă liệt kê trước đó. Nếu viết xuôi câu trên sẽ như sau: - “Chư quả hương tảo, bồ đào, lê, năi”.
Nguyên tác. Khuất Chi Quốc 02 / 34.
- “Khuất Chi Quốc Đông Tây thiên dư lí, Nam Bắc lục bách dư lí. Quốc Đại Đô thành chu thập thất, bát lí. Nghi môn, mạch, hữu canh đạo, xuất bồ đào, thạch lựu, đa lê, năi, đào, hạnh. Thổ sản: hoàng kim, đồng, thiết, diên, tích. Khí tự ḥa, phong tục chất”.
/ Sđd. Qu.I. Khuất Chi Quốc /.
Thích Như Điển dịch.
- “Nước Quật Chi đông tây hơn ngàn dặm. Nam bắc hơn 600 dặm. Thủ đô của nước này là 78 dặm. Có trồng lúa mạch, nho, lựu và nhiều đào lê. Những thổ sản như vàng, đồng, thiếc, khí hậu phong tục ôn ḥa”.
(trang 33).
Minh Di.
- “Nước Khuất Chi Đông – Tây dài hơn một ngàn dặm, Nam - Bắc xa hơn 600 dặm. Kinh thành của nước này chu vi 17, 18 dặm. Thổ sản: có lúa kê, lúa mạch, có cả giống lúa muộn, trồng nho, thạch lựu, có nhiều lê, táo, đào, mơ. Khoáng sản: có vàng, đồng, sắt, ch́, thiếc. Khí hậu ôn ḥa, phong tục chất phác”.
+ Những cái Sai của Thích Như Điển.
~ Chữ “Khuất” trong tên “Khuất Chi Quốc” cũng có một âm đọc là “Quật”, nhưng ở đây phải đọc là “Khuất”. Tức Khuất Chi, không phải Quật Chi như Thích Như Điển viết.
Khuất Chi tức nước Khâu Tư, nay là Khu Tự trị Duy Ngô Nhĩ, tỉnh Tân Cương.
~ Chu vi của Kinh thành Khuất Chi là 17 hoặc 18 dặm, Thích Như Điển lại nói 78 dặm!
Trước hết, Thích Như Điển dịch thiếu chữ “thập” (= 10), và cũng như trước đây, ông ta thấy 2 con số gần nhau cứ thế mà ráp lại, mà không biết rằng những con số đứng liền nhau chỉ chiều dài hay chu vi trong “Tây Vực Kư” độc lập, mỗi số là 1 trị số khác.
~ Về cây trái thực vật Thích Như Điển dịch thiếu các thứ lúa kê (môn), lúa muộn (canh) và táo (năi), rồi mơ (hạnh).
Đây là chưa nói trước những thực vật được liệt kê trong nguyên tác có chữ “Nghi”, tức tiếng “Thổ nghi” (Thổ sản) viết tắt, chữ này Thích Như Điển đă dịch thiếu.
~ Về khoáng sản Thích Như Điển dịch thiếu 2 khoáng sản “sắt” (thiết) và ch́ (diên).
~ Nguyên tác: “Phong tục chất” (“phong tục chất phác”), nhưng Thích Như Điển lại dịch là “phong tục ôn ḥa”! Ở đây chỉ tính t́nh của người Khuất Chi chất phác.
Cũng trong phần tự thuật về nước Khuất Chi, tập Tây Vực Kư chép:
- “Quốc đông cảnh thành bắc Thiên Từ tiền hữu Đại Long Tŕ. Chư long dịch h́nh giao hợp tẩn mă toại sinh long câu, lộng lệ nan ngự; long câu chi tử phương năi tuần giá. Sở dĩ thử quốc đa xuất thiện mă”.
/ Sđd. Qu. I. Khuất Chi Quốc. Đại Long Tŕ cập Kim Hoa Vương /.
Thích Như Điển dịch:
- “Phía đông của quốc gia này có một cái ao rất lớn. Nơi đó xuất hiện nhiều con rồng hay lấy nhau với ngựa sanh ra ngựa rồng trông rất khó coi. Ngựa rồng được huấn luyện thuần thục. Cho nên nước này có nhiều ngựa hay”.
(trang 33).
Minh Di.
- “Ở miền Đông nước này, ở phía Bắc thành, trước miếu Thiên Từ có một cái ao tên là Đại Long Tŕ. Những con rồng ở trong ao này biến h́nh mà giao hợp với ngựa cái để sinh ra giống ngựa gọi là long câu, (giống ngựa này) rất khó cỡi; (phải đến đời) con của long câu th́ mới huấn luyện để cỡi được. Bởi vậy nước này có nhiều ngựa hay”.
+ Những cái Sai của Thích Như Điển.
Cứ đối chiếu nguyên tác, và dịch văn của tôi độc giả thấy ngay Thích Như Điển đă dịch tầm bậy tầm bạ, thiếu rất nhiều.
~ Trước hết về vị trí chính xác của Đại Long Tŕ Thích Như Điển không biết.
~ Nguyên tác: “Những con rồng (ở trong ao) biến h́nh” (“Chư long dịch h́nh”), câu này không thấy trong dịch văn của Thích Như Điển.
~ Câu dịch “Nơi đó xuất hiện nhiều con rồng hay lấy nhau với ngựa sanh ra ngựa rồng trông rất khó coi” của Thích Như Điển có mấy chỗ thực ba láp!
V́ không hiểu câu “lộng lệ nan ngự” là ǵ Thích Như Điển dịch láo là “trông rất khó coi”.
2 chữ “lộng lệ []” nghĩa là “rất”. Lộng lệ nan = rất khó.
Khang Hi Tự Điển: “Lộng lệ, ngận dă”. [, ]: “Lộng lệ, nghĩa là rất”.
Ngoài ra, nguyên tác nói rơ là “rồng giao hợp với ngựa cái” [tẩn mă], trong khi câu dịch của Thích Như Điển nói khơi khơi là ngựa, không biết là ngựa đực hay ngựa cái?
~ “Ngựa rồng được huấn luyện thuần thục”, câu dịch này của Thích Như Điển chẳng ra đầu cua tai nheo ǵ hết, thực là lạc lơng!
Chỉ một đoạn văn ngắn như thế mà Thích Như Điển sai, thiếu tới chừng đó, và Câu cú th́ lủng cà lủng củng, rời rạc chẳng câu nào ăn với câu nào, đúng là “bất khả tư ngh́”!
Cũng ở Khuất Chi quốc, ở một đoạn dưới nữa:
- “Hoang thành Bắc tứ thập dư lí, tiếp sơn a cách nhất hà thủy, hữu nhị già lam, đồng danh Chiêu Hổ Ly, nhi Đông, Tây tùy xứng. Phật tượng trang sức đăi việt nhân công! Tăng đồ thanh túc, thành vi cần lệ. Đông Chiêu Hổ Ly Phật đường trung hữu ngọc thạch, diện quảng nhị xích dư, sắc đới hoàng bạch, trạng như hải cáp, kỳ thượng hữu Phật túc lí chi tích, trường xích hữu bát thốn, quảng dư lục thốn hĩ! Hoặc hữu trai nhật chiếu chúc quang minh”.
/ Sđd. Qu.I. Khuất Chi Quốc. Chiêu Hổ Ly nhị Già lam /.
Thích Như Điển dịch:
- “Hoàng thành phía bắc hơn 40 dặm giáp với núi và sông. Có hai ngôi chùa cùng có tên Chiếu Cổ Cốc; nhưng Đông Tây th́ tùy xưng. Sự trang sức Phật tượng do nhân công làm lấy. Tăng tín đồ dùng trai thanh tịnh. Tại Phật đường chùa Chiếu Cổ này có ngọc thạch. Mặt dài hai tấc, màu vàng và trắng giống như nước biển. Tại đây cũng có dấu chân của Đức Phật, chiều dài cở tám tấc, chiều rộng cở sáu tấc. Những ngày lễ lạc đều có thắp đèn”.
(trang 34).
Minh Di.
- “Phía Bắc thành hoang hơn 40 dặm, bên ven núi, cách một con sông, có 2 ngôi chùa cùng tên Chiêu Hổ Ly, 1 chùa bên Đông, 1 chùa bên Tây, đối xứng nhau. Tô điểm cho các tượng Phật đại khái do nhân công từ xa tới phụ trách! Tăng chúng th́ thanh tịnh trang nghiêm, thành tâm siêng năng (tu tập). Trong Phật đường Chùa Chiêu Hổ Ly bên Đông có một phiến ngọc thạch, bề mặt rộng hơn 2 thước, màu trắng ánh vàng, có dạng như loài trai ṣ biển, trên mặt có dấu chân Phật dài 1 thước 8 tấc, rộng hơn 6 tấc! Vào những ngày chay có lúc phiến ngọc thạch này phát ra ánh sáng rỡ ràng”.
[Phụ chú.
Như đă nói, 1 thước (xích) đời Đường = 31.1 cm (0.311 m).
1 tấc (thốn) bằng 1 / 10 xích, tức = 3.11 cm (0.0311 m).
Dấu chân Phật kể trên dài 1 xích 8 thốn là dài:
(1 x 31.1 cm) + (8 x 3.11 cm) = 31.1 cm + 24.88 cm = 55.88 cm.
Dấu chân Phật rộng 6 tấc là rộng:
6 x 3.11 cm = 18.66 cm].
+ Những cái Sai của Thích Như Điển.
Cứ đối chiếu 2 đoạn dịch văn trên đây độc giả thấy ngay những cái sai về phiên âm, về phiên dịch của Thích Như Điển. Những cái sai, cái bá láp của Thích Như Điển:
~ Nguyên tác: “Hoang thành” (Thành hoang) dịch là “hoàng thành”,
~ Nguyên tác: “tiếp sơn a, cách nhất hà thủy (bên ven núi, cách một con sông)” th́ dịch rất là ba láp là “giáp với núi và sông”.
~ Tên Chùa “Chiêu Hổ Ly” đọc thành “Chiếu Cổ Cốc”.
Cả 3 Chữ phiên âm đều sai cả 3! Tôi đến không rơ Thích Như Điển ṃ được ở đâu ra cái tên Chiếu Cổ Cốc này?
Chiêu Hổ Ly.
Và “tùy xứng” (đối xứng) lại đọc sai là “tùy xưng”, và rồi cũng bởi không hiểu 2 chữ này nghĩa là ǵ, túng quá, không biết phải dịch ra làm sao, Thích Như Điển rồi để nguyên là “tùy xưng”.
~ Nguyên tác nói là: “Nhân công tô điểm tượng Phật là nhân công từ xa tới”, thế nhưng Thích Như Điển lại dịch sai lạc là “Sự trang sức Phật tượng do nhân công làm lấy”.
~ Nguyên tác: “Tăng chúng th́ thanh tịnh trang nghiêm, thành tâm siêng năng (tu tập)”.
Thích Như Điển lại dịch rất ba láp là “Tăng tín đồ dùng trai thanh tịnh”
~ Về màu sắc cũng như kích thước chính xác của phiến ngọc thạch trong Phật đường của Chùa Chiêu Hổ Ly bên Đông cũng viết ba láp.
Chúng ta hăy nghe Thích Như Điển nói lếu láo: “Tại Phật đường chùa Chiếu Cổ này có ngọc thạch. Mặt dài hai tấc, màu vàng và trắng giống như nước biển”.
> Nguyên tác tả là “Phiến ngọc thạch này bề rộng hơn 2 thước, sắc trắng ánh vàng, có h́nh dạng như vỏ trai ṣ ở biển”.
~ Và rồi, thêm 1 cái lếu láo nữa: “Tại đây cũng có dấu chân của Đức Phật, chiều dài cở tám tấc, chiều rộng cở sáu tấc”.
> Nguyên tác: “Dấu chân Phật dài 1 thước 8 tấc, rộng hơn 6 tấc”.
~ Một cái lếu láo sau cùng của Thích Như Điển: “Những ngày lễ lạc đều có thắp đèn”.
> “Vào những ngày chay có lúc phiến ngọc thạch này phát ra ánh sáng rỡ ràng”.
Nguyên tác ghi rành rành là “ngày Chay” (“Trai nhật”) mà Thích Như Điển dịch tầm bậy là “ngày lễ lạc”....…
Cũng nước Khuất Chi, ở một đoạn dưới nữa:
- “Đại thành Tây môn ngoại lộ tả hữu các hữu lập Phật tượng cao cửu thập dư xích. Ư thử tượng tiền kiến ngũ niên nhất đại hội xứ. Mỗi tuế Thu phân sổ thập nhật gian, cử quốc tăng đồ giai lai hội tập. Thượng tự Quân vương, hạ chí sĩ thứ quyên phế tục vụ, phụng tŕ trai giới, thụ Kinh, thính Pháp, khát nhật vong b́. Chư tăng già lam trang nghiêm Phật tượng, oanh dĩ trân bảo, sức chi cẩm khởi, tái chư liễn dư vị chi Hành Tượng, động dĩ thiên số vân tập hội sở. Thường dĩ nguyệt thập ngũ nhật, hối nhật, quốc vương, đại thần mưu nghị Quốc sự, phỏng cập cao tăng, nhiên hậu tuyên bố”.
/ Sđd. Qu. I. Khuất Chi Quốc. Đại Hội Trường /.
Thích Như Điển dịch:
- “Bên ngoài cửa phía Tây của thành ở hai bên đường đều có dựng tượng Phật. Cao hơn 90 tấc. Nơi trước tượng này cứ mỗi 5 năm có một lần đại hội cúng lễ mùa Thu đến 10 ngày. Tăng tín đồ đều đến đây tập hội. Trên từ quân vương, dưới đến thứ dân theo phong tục này phụng tŕ trai giới. Thọ kinh thính pháp ngày này qua ngày khác. Chư tăng sửa soạn Phật tượng nơi giá lam dùng vải để trang sức, kết hoa nơi Phật tượng. Vương Đại Thần cũng hội nghị quốc sự cùng với cao Tăng, khi đông nhất có cả ngàn người vân tập thường vào ngày 15 mỗi tháng”.
(trang 34).
Minh Di.
- “Phía ngoài cửa Tây Kinh thành 2 bên đường đều có tượng Phật cao hơn 90 thước. Cứ mỗi 5 năm một lần, trước 2 Tượng này là nơi tổ chức Đại hội. Hằng năm mấy chục ngày của tiết Thu phân th́ tăng chúng cả nước đều tụ tập về đây. Trên từ Quốc vương dưới đến thứ dân (tất cả) đều bỏ hết mọi chuyện thế tục, ăn chay giữ giới, tụng Kinh nghe Pháp, suốt ngày quên cả mệt mỏi. Các chùa th́ làm tôn vẻ trang nghiêm của các tượng Phật, dùng các vật quí báu cho tượng rỡ ràng, trang sức tượng với gấm vóc và chở lên xe, gọi là Rước Tượng, làm cả ngàn người nô nức tới nơi hành lễ. Thường th́ mỗi tháng vào 2 ngày 15 và ngày cuối tháng quốc vương, đại thần họp bàn quốc sự và (sau khi) hỏi ư kiến của các cao tăng th́ mới tuyên bố những quyết định (ở buổi họp)”.
[Phụ chú.
5 năm một lần Đại hội ở đây tức chỉ Đại lễ Vô Già, Phạn ngữ là Pañcapariṣad, hoặc là Pañcavarṣika-pariṣad, là Lễ Đại Trai - Xin coi chú thích ở một đoạn sau].
+ Những cái Sai của Thích Như Điển.
Thích Như Điển dịch sai rất nhiều:
~ Nguyên tác: “Cửa tây của Kinh thành”, Thích như Điển chỉ nói “thành” thôi th́ thiếu.
~ Nguyên tác ghi rơ là: 2 Tượng Phật ở 2 bên đường ngoài Cửa Tây Kinh Thành cao hơn 90 thước (cửu thập dư xích), tức hơn 27.99 m, không phải 90 tấc (02.799 m), như Thích Như Điển viết sai!
~ Nguyên tác nói “Thu phân sổ thập nhật gian”, (“mấy chục ngày của tiết Thu phân”).
Trong khi Thích Như Điển dịch bậy là “cúng lễ mùa Thu đến 10 ngày”.
Nguyên tác nói: “sổ thập nhật”, tức “mấy chục ngày”, Thích Như Điển bởi Hán văn kém cho nên dịch 2 chữ “sổ thập” là “10 ngày”.
[Tiết Thu phân ứng với ngày 23, hoặc 24 tháng 9 Dương lịch ở Bắc Bán cầu.
Khi mặt trời tiến gần đường Xích đạo để tiến tới điểm bắt đầu mùa Thu. Đến điểm này th́ đây là thời điểm ngày và đêm dài bằng nhau].
~ Nguyên tác: “Thụ Kinh thính Pháp, khát nhật vong b́”, tức là “Tụng Kinh nghe Pháp suốt ngày quên cả mệt mỏi”. “Khát nhật” nghĩa là “suốt ngày”.
Trong khi đó Thích Như Điển lại dịch “khát nhật” lếu láo là “ngày này qua ngày khác”.
~ Nguyên tác tự thuật việc tô điểm các tượng Phật trong các Chùa rất chi tiết:
- “Chư tăng già lam trang nghiêm Phật tượng, oanh dĩ trân bảo, sức chi cẩm khởi, tái chư liễn dư vị chi Hành Tượng”.
- “Các Chùa th́ làm tôn vẻ trang nghiêm của các tượng Phật, dùng các vật quí tô điểm cho tượng rỡ ràng, trang sức tượng với gấm vóc và chở lên xe, gọi là Rước Tượng”.
Trong khi đó th́ Thích Như Điển lại dịch rất qua quít: - “Chư tăng sửa soạn Phật tượng nơi giá lam dùng vải để trang sức, kết hoa nơi Phật tượng.”
Câu dịch trên của Thích Như Điển thiếu mất các ư: - “các vật quí báu”, “chở lên xe”, và nhất là ư “gọi là Rước Tượng”.
Ngoài ra trong nguyên tác không cho chỗ nào nói “kết hoa nơi Phật tượng” cả!
Đă hẳn, rước tượng Phật như vậy th́ có kết hoa, nhưng đây nguyên tác không nói.
~ Nguyên tác: - “Thường th́ mỗi tháng vào 2 ngày 15 và ngày cuối tháng Quốc vương, Đại thần họp bàn việc nước và (sau khi) hỏi ư kiến của các cao tăng th́ mới tuyên bố những quyết định (ở buổi họp)”.
Cứ đối chiếu với dịch văn của Thích Như Điển độc giả sẽ thấy rơ cái ba láp, cái lếu láo của Thích Như Điển!
Tiếp liền đoạn trên, “Tây Vực Kư” tự thuật về một ngôi Chùa nổi tiếng của Khuất Chi:
- “Hội trường Tây bắc, độ hà chí A Xa Lí Nhị già lam (Đường ngôn ḱ đặc), đ́nh vũ hiển xưởng, Phật tượng công sức, tăng đồ túc mục, tinh cần phỉ đăi, tịnh thị ḱ ngải túc đức, thạc học cao tài, viễn phương tuấn ngạn, mộ nghĩa chí chỉ! Quốc vương, đại thần, sĩ thứ, hào hữu tứ sự cung dưỡng, cửu nhi di kính! Văn chư tiên chí viết:
~ Tích thử Quốc tiên vương sùng kính Tam Bảo, tương dục du phương, quan lễ Thánh tích, năi mệnh mẫu đệ nhiếp tri lưu sự. Kỳ đệ thụ mệnh, thiết tự cát thế, pḥng vị manh dă! Phong chi kim hàm, tŕ dĩ thượng vương. Vương viết:
< Tư hà vị dă?>.
Đối viết:
< Hồi giá chi nhật, năi khả khai phát >.
Tức phó chấp sự, tùy quân chưởng hộ.
Vương chi hoàn giả, quả hữu cấu họa giả viết:
< Vương lệnh giám quốc, dâm loạn trung cung >.
Vương văn chấn nộ, dục trí nghiêm h́nh. Đệ viết:
< Bất cảm đào trách, nguyện khai kim hàm>.
Vương toại phát nhi thị chi, năi đoạn thế dă! Viết:
< Tư hà dị vật, dục hà phát minh? >.
Đối viết:
< Vương tích du phương, mệnh tri lưu sự, cụ hữu sàm họa, cát thế tự minh. Kim quả hữu trưng, nguyện thùy chiếu lăm! >.
Vương thâm kinh dị, t́nh ái di long, xuất nhập hậu đ́nh, vô sở cấm ngại.
Vương đệ ư hậu hành, ngộ nhất phu ủng ngũ bách ngưu, dục sự h́nh hủ. Kiến nhi duy niệm, dẫn loại tăng hoài “Ngă kim h́nh khuy, khởi phi túc nghiệp?”. Tức dĩ tài bảo thục thử quần ngưu, dĩ từ thiện lực, nam h́nh tiệm cụ. Dĩ h́nh cụ cố, toại bất nhập Cung.
Vương quái nhi vấn chi, năi trần kỳ thủy mạt. Vương dĩ vi kỳ đặc dă, toại kiến Già lam, thức tinh mỹ tích, truyền phương hậu điệp”.
/ Sđd. Qu. I. Khuất Chi Quốc. A Xa Lí Già Lam cập Kỳ Truyền Thuyết /.
Thích Như Điển dịch:
- “Từ hội trường tây bắc qua sông đến A Nhă Lư có hai ngôi Già Lam, nơi đây thờ tự Phật tượng rất đẹp đẽ. Tăng tín đồ siêng năng tu học không giải đăi. Họ là những người có đức độ và học vấn cao. Xa xôi cách mấy cũng có nhiều người đến không dừng. Quốc Vương đại thần thứ dân tả hữu luôn luôn có sự tứ cúng dường và có tâm cung kính. Nghe người xưa nói lại rằng Vua đời trước rất sùng kính Tam Bảo, muốn đi chiêm bái các Thánh Tích, nên để cho mẹ và em nhiếp chính. Người em lănh giữ, nhưng chưa tự pḥng được như vua anh, nên có vấn đề. Khi ngài trở về lại chẳng như ư nên Vua đă cho người khác thay thế. Nhưng kết quả của Vua em làm đă tạo nên những việc loạn dâm trong triều đ́nh cung nội. Khi Vua nghe được như vậy liền giận dữ muốn nghiêm phạt. Người em nói rằng: “Em muốn cho Vương Triều phát đạt tạo nên thế lực lớn, mà sanh ra kết quả khác thường như vậy. Có ngờ đâu sanh ra việc ấy”.
Lại nói khi Vua đi du hành để lại những công việc triều chính, mà người em đă làm hại th́ kết quả bây giờ đă có nhật nguyệt chiếu soi. Nhà Vua v́ t́nh cảm anh em mà cho vào ra nơi cung đ́nh không có nghiêm cấm. Sau đó Vua em đă tự tiện giết 500 con ḅ, thấy thế liền nghi mọi việc băng hoại. Chẳng qua là túc nghiệp của ta giống như loài ḅ nầy, v́ ḷng từ thiện mà hy sinh vậy. Những kẻ có h́nh người nam không được nhập cung. Nhà Vua được điều trần trước sau như vậy; nhưng nhà Vua vẫn đặc biệt cho kiến tạo già lam xây dựng chỗ ở cho Tăng”.
(trang 34, 35).
Phải nói là tôi phải rùng ḿnh cho một cái sự không biết phải dùng h́nh dung từ nào để diễn tả cho hết cảm nghĩ của tôi khi duyệt đoạn dịch văn trên đây của ông trụ tŕ Chùa Viên Giác Thích Như Điển!
Một câu chuyện có đầu có đuôi, mạch lạc đâu ra đó, tự thuật cũng b́nh dị, bất cứ ai có tŕnh độ trung b́nh về Hán văn cũng có thể hiểu rơ! Nhưng gặp ông trụ tŕ này th́ thành một đống xà bần, Câu chuyện kể lại trở nên tối tăm, u ám, Thích Như Điển rồi viết như một kẻ mê sảng!
Nói hành văn! Hành là làm, là đi, thế nhưng, ở đây Thích Như Điển lại “không đi”, mà oặt ̣a oặt oại lê lết, đến thảm thương!
Đọc phần dịch của tôi sau đây độc giả sẽ thấy rơ cái mê sảng, cái oặt ̣a oặt oại của Thích Như Điển, trụ tŕ Chùa Viên Giác.
Minh Di dịch:
- “Đi về phía Tây bắc Hội trường, qua sông th́ tới Chùa A Xa Lí Nhị (Hán ngữ có nghĩa là ḱ đặc), Chùa sáng sủa rộng răi, tượng Phật tạc rất công phu đẹp đẽ, c̣n tăng chúng th́ nét mặt cử chỉ nghiêm trang thư thái, siêng năng tinh tấn [tu tập] không biếng trễ, và tất cả đều là những người già cả nổi tiếng đức độ, học rộng tài cao, (do đó) những bậc tài giỏi xuất chúng ở nơi xa nghe tiếng mà tới thăm Chùa này! Tới cúng dường Tứ Sự như Quốc vương, đại thần, thứ dân, những kẻ giàu có có thế lực, cúng dường lâu dần th́ càng thêm tôn kính các vị! [Tôi] nghe các Ghi chép đời trước kể rằng:
~ Xưa kia, vua đời trước Nước này là người sùng kính Tam Bảo, ông ta muốn đi khắp bốn phương chiêm bái các nơi có Thánh Tích nên ra lệnh cho người em cùng mẹ ở lại nắm giữ Chính sự. Em vua tiếp nhận lệnh xong th́ kín đáo tự cắt bỏ bộ phận sinh dục của ḿnh, để dự pḥng việc không hay sau này! (tự hoạn xong) đem (vật đó) để trong một cái hộp bằng vàng, mang đến dâng lên vua. Vua hỏi:
< Cái này là cái ǵ?>.
Người em trả lời:
< Ngày nhà vua hồi giá trở lại th́ có thể mở ra được! >.
Sau đó tức thời trở về lo việc nước, nắm giữ quân binh.
Lúc vua trở về th́ quả nhiên có kẻ muốn gieo họa cho người em, tâu với vua rằng:
< Em của nhà vua nắm giữ việc nước đă làm chuyện dâm loạn trong cung >.
Vua nghe th́ nổi giận muốn xử trị nghiêm khắc em ḿnh. Người em nói:
< Tôi không dám trốn tránh trách nhiệm, xin nhà vua mở cái hộp vàng kia ra! >.
Vua liền mở cái hộp đó ra coi, thấy cái bộ phận sinh dục, th́ hỏi:
< Cái này là cái vật lạ ǵ đây? ngươi muốn giở tṛ ǵ đây? >.
Người em nói:
< Trước đây nhà vua đi xa, lệnh cho tôi coi giữ việc nước, tôi sợ rồi sẽ bị họa hủy báng nên đă tự hoạn để sự việc tự sáng tỏ! Bây giờ quả nhiên sự việc đă xảy ra xin nhà vua soi xét cho >.
Nhà vua rất lấy làm kinh dị, ḷng thương yêu em càng thêm cao, cho phép người em ra vào hậu cung không ngăn cấm, e ngại ǵ cả!
Về sau, trong một lần đi ra ngoài, người em của vua gặp 1 người lùa 1 đàn ḅ 500 con đem đi thiến. Thấy thế người em nghĩ lại thân ḿnh mà càng thêm ngậm ngùi: “Bây giờ thân thể ta khiếm khuyết thế này biết đâu chẳng là cái nghiệp của ta từ kiếp trước?”.
Lập tức lấy tiền bạc, vật quí giá mà chuộc đàn ḅ này! Do cái lực của ḷng từ thiện này mà bộ phận sinh dục dần dần phục hồi trở lại như một người đàn ông b́nh thường!
Đă trở lại 1 người đàn ông b́nh thường do đó người em không vào cung nữa! Nhà vua lấy làm ngạc nhiên, hỏi th́ người em thuật lại đầu đuôi câu chuyện. Nhà vua cho rằng đây là một chuyện kỳ lạ, đặc biệt nên cho xây Chùa để tuyên dương việc làm tốt đẹp lưu lại tiếng thơm cho đời sau”.
[Phụ chú.
Tứ sự Cúng dường. Tức 4 thứ cúng dường: Ẩm thực, Y phục, Ngọa cụ, Y dược.
Ngọa cụ tức như mền, chiếu, gối...…tất cả những ǵ liên quan việc ngủ nghỉ.
Mẫu đệ. Em cùng mẹ sinh ra.
Bộ Từ Vị giảng tiếng mẫu đệ như sau:
- “[Mẫu đệ]. Đồng mẫu sở sinh đích đệ đệ”.
- “[Mẫu đệ]. Em cùng mẹ sinh ra”.
Cát thế. Cắt bộ bộ phận sinh dục, tức hoạn, thiến. Cũng gọi là “Khử thế”.
Từ điển Từ Nguyên giảng chữ “Thế” như sau:
- “[Thế]. …(4). Nam tính sinh thực khí. Thái B́nh Ngự Lăm, 648, dẫn Thượng Thư vĩ H́nh Đức Phóng: “Cát giả, trượng phu dâm, cát kỳ thế dă dĩ!”.
- [Thế]. ... (4). Bộ phận sinh dục của phái nam. Thái B́nh Ngự Lăm, [Quyển] 648, dẫn cuốn Thượng Thư vĩ H́nh Đức Phóng (nói): “Cắt, đàn ông (mà) dâm dục (thái quá) th́ cắt bỏ bộ phận sinh dục của nó đi!”.
Từ điển Từ Hải giải chữ “thế”:
- “[Thế]. Ngoại thận vi Thế”.
- “[Thế]. Ngoại thận gọi là Thế”.
Cuốn Thượng Thư vĩ H́nh Đức Phóng viết:
- “Cung giả, nữ tử dâm loạn, chấp trí cung trung, bất đắc xuất dă! Cát giả, trượng phu dâm, cát kỳ thế dă dĩ!”.
/ Vĩ Thư Tập Thành. Thượng Thư H́nh Đức Phóng /.
- “Cung, là đàn bà, con gái (mà) dâm loạn th́ bắt nhốt trong nhà, không cho ra ngoài! Cắt, là đàn ông (mà) dâm dục (thái quá) th́ cắt bỏ bộ phận sinh dục của nó đi!”.
Trung cung. Có 2 cách giải thích:
1). Trong Cung.
Trong Hán ngữ, thông thường chữ “trung” khi đi kèm với một danh từ chỉ nơi chốn th́ chữ “trung” này đứng sau danh từ đó, chẳng hạn:
- “trong ḷng” th́ nói “tâm trung”, “trong rừng” th́ nói “lâm trung”....…
Thế nhưng, trong Cú pháp Trung Quốc thời tối cổ người ta rất thường nói ngược lại.
Như 2 thí dụ nêu trên người ta lại nói là “trung tâm” và “trung lâm”.
Duyệt qua “Thi Kinh”.
PHONG.
+ Bội Phong (Phong dao nước Bội).
- Chung phong.
Hước lăng tiếu ngạo, (Thoải mái cười vui),
Trung tâm thị đáo. (Trong ḷng bi thương).
- Cốc phong.
Hành đạo tŕ tŕ, (Chầm chậm đi trên đường),
Trung tâm hữu vi. (Trong ḷng ngập ngừng).
+ Chu Nam.
- Cát đàm.
Cát chi đàm hề! (Dây leo ḅ lan)!
Dị vu trung cốc. (Ḅ lan trong hang).
...........…
Chú thích tiếng “trung cốc”, Chu Hi (1130 - 1200) viết trong “Thi Tập Truyện”:
- “Trung cốc, cốc trung dă”. (Trung cốc, là ở trong động).
- Thố ta.
Túc túc thố ta, (Bẫy thỏ ngay ngắn),
Thi vu trung qú. (Đặt giữa đường lớn).
...........…
Túc túc thố ta, (Bẫy thỏ ngay ngắn),
Thi vu trung lâm. (Đặt ở trong rừng).
Chú thích tiếng “trung lâm”, Chu Hi viết:
- “Trung lâm, lâm trung”. (Trung lâm, là ở trong rừng).
+ Bội Phong (Phong dao nước Bội).
- Thức vi.
Thức vi, thức vi! (Trời chiều, chiều rồi)!
Hồ bất qui? (Sao chẳng về)?
Vị quân chi cố, (Chẳng phải v́ ông),
Hồ vi hồ trung lộ? (Sao ta dăi dầu trong sương)?
Chú thích tiếng “trung lộ”, Chu Hi viết:
- “Trung lộ, lộ trung dă”. (Trung lộ, là trong sương).
+ Dung Phong (Phong dao nước Dung).
- Bách chu.
Phiếm bỉ bách chu, (Dạo thuyền gỗ bách kia),
Tại bỉ trung hà. (Ở trong sông kia).
Chú thích tiếng “trung hà”, Chu Hi viết:
- “Trung hà, trung ư hà dă”. (Trung hà, là ở trong sông).
+ Vương Phong (Phong dao nước Vương).
- Trung cốc hữu thôi.
Trung cốc hữu Thôi, (Cỏ Thôi trong hang),
Kỳ kiên hĩ! (Cỏ thôi héo)!
...........…
Trung cốc hữu Thôi, (Cỏ Thôi trong hang),
Hán kỳ túc hĩ! (Thân dài khô héo)!
...........…
Trung cốc hữu Thôi, (Cỏ Thôi trong hang),
Hán kỳ thấp hĩ! (Dầu ẩm cũng héo)!
TIỂU NHĂ.
- Tinh tinh giả Nga.
Tinh tinh giả Nga, (Cỏ Nga xanh xanh),
Tại bỉ trung chỉ. (trong cù lao nhỏ).
...........…
Tinh tinh giả Nga, (Cỏ Nga xanh xanh),
Tại bỉ trung lăng. (Trong cái g̣ kia).
- Thân Nam sơn.
Trung điền hữu lư, (Trong ruộng có nhà),
Cương dịch hữu qua. (Bờ ruộng có dưa).
Ngoài ra, trong thiên “Ly Tao” Khuất Nguyên (343 - 299 tr. Cn) có câu:
Triêu kiển bi chi mộc lan hề, (Sáng nhổ mộc lan trên g̣ kia),
Tịch lăm trung châu túc mộ. (Chiều hái cỏ bất tử trong cồn).
Vương Dật chú thích tiếng “túc mộ”:
- “Thảo Đông sinh bất tử giả, Sở nhân danh viết túc mộ”.
- “Loài cỏ vào mùa Đông mà vẫn không chết người nước Sở gọi là túc mộ”.
Cũng Khuất Nguyên trong thiên “Viễn du”:
Nhất khí khổng thần hề, (Một khí rất thần ḱa),
Ư trung dạ tồn hư dĩ đăi chi hề! (Trong đêm tâm không để tiếp nhận ḱa)!
> Mục Thiên Tử Truyện.
Xuy sinh cổ hoàng,
Trung tâm tường tường!
/ Mục Thiên Tử Truyện. Qu. III /.
Thổi sênh chơi sáo,
Trong ḷng lâng lâng!
Minh Di án:
+ Trung tâm tường tường.
Đỗ Văn Lan (1815 - 1881) trong Tập “Cổ Dao Ngạn” sưu tập Phong dao, Ngạn ngữ cổ của Trung Quốc cũng đă dẫn 2 Câu nói trên từ “Mục Thiên Tử Truyện”, nhưng 2 tiếng “tường tường” ông lại ghi là “ngao ngao”: “trung tâm ngao ngao”.
(Tham khảo: Đỗ Văn Lan, Cổ dao Ngạn. Qu. XV).
2 tiếng “ngao ngao”, “tường tường” diễn tả tư thế của chim lúc bay.
Chim bay 2 cánh đập lên, đập xuống, gọi là “ngao”, c̣n 2 cánh x̣e ngang bất động gọi là “tường”.
Sau hết, về chữ “trung” đứng trước 1 chữ khác và có nghĩa là “trong”, “ở trong”, ở đây xin dẫn thêm một số thí dụ trong Văn xuôi.
- Trung triều.
Sử gia Tư Mă Thiên (145 - 86 tr. Cn) viết:
- “Kim đại vương trung triều nhi ưu, thần cảm thỉnh kỳ tội”.
Sử Kư. Qu. LXXXIX. Phạm Tuy truyện /.
- “Bây giờ đại vương ở trong triều mà lo lắng, thần xin chịu cái tội này”.
Âu Dương Tu (1007 - 1072) chép trong “Tân Đường Thư”:
- “Đức Dụ vi Tướng, dữ Tông Mẫn cộng đương quốc. Đức Dụ nhập tạ.
Văn tông viết: - Nhĩ tri triều đ́nh hữu bằng đảng hồ?”.
Đức Dụ viết: - Kim trung triều bán vi đảng nhân”.
/ Tân Đường Thư. Qu. CLXXIV. Lư Tông Mẫn truyện /.
- “(Lư) Đức Dụ làm quan đầu triều, cùng (Lư) Tông Mẫn chung lo Quốc sự. Đức Dụ vào tạ ơn.
(Đường) Văn tông nói: - Ông có biết triều đ́nh có nạn bè đảng không?
Đức Dụ thưa: - Hiện nay trong triều phân nửa là người bè đảng!”.
Từ điển Từ Nguyên giảng tiếng “trung triều” như sau:
- “[Trung triều]. 1. Triều trung”.
- “[Trung triều]. 1. Trong triều”.
Từ điển Từ Hải giảng tiếng “trung triều”:
- “[Trung triều]. 4. Vị triều nội dă”.
- “[Trung triều]. 4. Ư nói ở trong triều”.
2). Hoàng hậu.
Trung Cung ở đây có nghĩa là Cung ở giữa, tức Cung của hoàng hậu.
Sách “Chu Lễ” viết:
- “Dĩ âm lễ giáo Lục Cung”.
/ Chu Lễ Chú Sớ. Qu. VII. Thiên quan. Nội Tể /.
- “Lấy Lễ của phụ nữ dạy cho Lục Cung”.
Trịnh Huyền (127 - 200) thời Đông Hán (25 - 220) chú thích câu trên có đoạn viết:
- “Huyền vị Lục Cung vị hậu dă. Phụ nhân xưng tẩm viết Cung, Cung, “ẩn tế” chi ngôn. Hậu tượng Vương, lập Lục cung nhi cư chi, dịch chính tẩm nhất, yến tẩm ngũ! Giáo giả bất cảm xích ngôn chi, vị chi Lục Cung, nhược kim xưng hoàng hậu vi Trung Cung hĩ!”.
Dịch:
- “(Trịnh) Huyền tôi cho rằng (2 chữ) Lục Cung tức chỉ (hoàng) hậu. Chỗ ở của đàn bà gọi là Cung, (chữ) Cung ư nói sự “kín đáo”! Cũng như vua, Hoàng hậu lập Lục Cung để ở, cũng gồm 1 Pḥng Chính, 5 Yến Tẩm. Người dạy (hoàng hậu) không dám vô lễ nên gọi hoàng hậu là Lục Cung, như hiện nay gọi hoàng hậu là Trung Cung vậy!”.
+ Những cái Sai của Thích Như Điển.
Dịch văn của Thích Như Điển, như đă thấy, chỉ là sự mê sảng của một kẻ (của bốn kẻ có lẽ đúng hơn, tức kể cả Thích Đồng Văn + Thích Hạnh Giới + Thích Bảo Lạc).
Ở đây tôi xin nêu những cái kém cỏi về Hán văn của bộ 4 trên đây mà Thích Như Điển đại diện kư tên Bản dịch!
~ Nguyên tác: “...… độ hà chí A Xa Lí Nhị Già Lam (Đường ngôn ḱ đặc)...…”.
- “...… qua sông th́ tới Chùa A Xa Lí Nhĩ (Hán ngữ có nghĩa là ḱ đặc)...…”.
Tên Chùa A Xa Lí Nhị, như chú thích của Huyền Trang in chữ nhỏ trong ngoặc đơn, có nghĩa là “ḱ đặc”, Thích Như Điển đă ghi vừa thiếu lại vừa sai thành “A Nhă Lư”, nhất là không hiểu, tưởng A Xa Lí Nhị là 1 địa danh, và hơn thế nữa, chữ “Nhị” trong tên Chùa Thích Như Điển lại tưởng là “2 (số 2)” do đó đă dịch câu trên mê sảng như sau:
- “qua sông đến A Nhă Lư có hai ngôi Già Lam”.
~ Nguyên tác: “sĩ thứ, hào hữu”, nghĩa là “thứ dân, những kẻ giàu có có thế lực”.
Thích Như Điển dốt quá nên dịch tiếng “hào hữu” là “tả hữu”:
- “thứ dân tả hữu”.
~ Nguyên tác: “...… năi mệnh mẫu đệ nhiếp tri lưu sự”.
- “...… nên ra lệnh cho người em cùng mẹ ở lại nắm giữ Chính sự”.
Tiếng “mẫu đệ” nghĩa là “em cùng mẹ sinh ra”.
Một tiếng rất thông thường như vậy mà Thích Như Điển dịch bậy bạ là:
- “...… nên để cho mẹ và em nhiếp chính”.
~ Nguyên tác: “Kỳ đệ thụ mệnh, thiết tự cát thế, pḥng vị manh dă!”.
- “Em của vua tiếp nhận lệnh xong th́ kín đáo tự cắt bỏ bộ phận sinh dục của ḿnh, để dự pḥng việc không hay sau này!”.
Thích Như Điển dịch mê sảng, chẳng dính ǵ tới nguyên tác, như sau:
- “Người em lănh giữ, nhưng chưa tự pḥng được như vua anh, nên có vấn đề. Khi ngài trở về lại chẳng như ư nên Vua đă cho người khác thay thế”.
Nguyên tác: “tự cát thế”. “tự cắt bỏ bộ phận sinh dục của ḿnh”.
Thích Như Điển không hiểu, mà cho tới cả ông Ḥa thượng anh của Thích Như Điển là Thích Bảo Lạc, cũng như cho đến luôn 2 ông tỳ kheo “trợ dịch” cho Thích Như Điển là Thích Đồng Văn, Thích Hạnh Giới rồi cũng ù ù cạc cạc chẳng hiểu tiếng “cát thế” nghĩa là chi! Bởi vậy mới có đoạn văn dịch “mê sảng” trên đây của Thích Như Điển!
Câu “vị manh” nghĩa là “chưa chớm”, ở đây ư nói việc chưa xảy ra th́ phải ngăn ngừa từ lúc chưa có ǵ!
~ Nguyên tác:
- “Vương đệ ư hậu hành, ngộ nhất phu ủng ngũ bách ngưu, dục sự h́nh phủ! Kiến nhi duy niệm, dẫn loại tăng hoài: “Ngă kim h́nh khuy, khởi phi túc nghiệp?”.
Tức dĩ tài bảo thục thử quần ngưu”.
- “Về sau, trong một lần đi ra ngoài, người em vua gặp 1 người lùa một đàn ḅ 500 con đem đi thiến! Thấy thế người em nghĩ lại thân ḿnh mà càng thêm ngậm ngùi: “Bây giờ thân thể ta khiếm khuyết thế này biết đâu chẳng là cái nghiệp của ta từ kiếp trước?”.
Lập tức lấy tiền bạc, vật quí giá mà chuộc đàn ḅ này!”.
Thích Như Điển lại dịch đă thật dốt nát lại thật ngu ngơ là:
- “Sau đó Vua em đă tự tiện giết 500 con ḅ, thấy thế liền nghi mọi việc băng hoại Chẳng qua là túc nghiệp của ta giống như loài ḅ nầy”.
Tiếng “cát thế” Thích Như Điển đă không biết, mà tiếng “h́nh phủ” ở đây cũng mù mờ không biết luôn!
“Phủ” là 1 h́nh phạt thời cổ, cũng gọi là “Cung h́nh”, tức “Hoạn, thiến”! H́nh phạt này đă được đề cập trong bộ “Sử Kư” của Sử gia Tư Mă Thiên (145 - 86 ? tr. Cn), và trong bộ “Hán Thư” của Ban Cố (32 - 92). “Phủ h́nh” có người đọc là “Hủ h́nh”.
Đối chiếu với nguyên tác, độc giả thấy ngay, và thực dễ dàng, Thích Như Điển đă thiếu những chi tiết:
1). Việc em của vua tự hoạn, đem bộ phận sinh dục của ḿnh bỏ vào hộp bằng vàng đưa cho vua anh ḿnh.
2). Việc có kẻ tâu gian hăm hại người em, và tiếp theo đó là mẩu vấn đáp giữa vua và người em của ḿnh!
3). Việc em vua lấy tiền của chuộc 500 con ḅ sắp bị đưa đi thiến.
Chẳng những thế c̣n bịa ra những chuyện không hề có trong nguyên tác, như:
1). “Nhưng kết quả của Vua em làm đă tạo nên những việc loạn dâm trong triều đ́nh cung nội. Khi Vua nghe được như vậy liền giận dữ muốn nghiêm phạt. Người em nói rằng: “Em muốn cho Vương Triều phát đạt tạo nên thế lực lớn, mà sanh ra kết quả khác thường như vậy. Có ngờ đâu sanh ra việc ấy”.
2). “Nhà Vua được điều trần trước sau như vậy; nhưng nhà Vua vẫn đặc biệt cho kiến tạo già lam xây dựng chỗ ở cho Tăng”.
Nguyên tác. Bạt Lộc Ca Quốc 3 / 34.
- “Bạt Lộc Ca Quốc Đông Tây lục bách dư lí, Nam Bắc tam bách dư lí. Quốc Đại Đô thành chu ngũ, lục lí. Thổ nghi, Khí tự, nhân tính, Phong tục, văn tự, Pháp tắc đồng Khuất Chi Quốc, Ngữ ngôn thiểu dị, tế chiên, tế hạt, lân Quốc sở trọng. Già lam sổ thập sở, tăng đồ thiên dư nhân, tập học Tiểu Thừa giáo Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ”.
/ Sđd. Qu. I. Bạt Lộc Ca Quốc /.
Thích Như Điển dịch:
- “Nước Phạt Lục Già đông tây hơn 600 dặm. Nam bắc hơn 300 dặm, chu vi thành nội 56 dặm, thời tiết phong tục điều ḥa. Chữ viết dùng giống như nước Quật Chi. Tiếng nói ít đổi khác. Có sự giao tiếp với lân bang rất tốt. Chùa viện có hơn 10 cái. Tăng tín đồ hơn 1000 người tu theo Tiểu Thừa, thuộc Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ”.
(Trang: cuối 35, đầu 36).
Minh Di.
- “Nước Bạt Lộc Ca, từ Đông sang Tây hơn 600 dặm, từ Nam lên Bắc hơn 300 dặm. Kinh thành của nước này chu vi (khoảng) 5, 6 dặm. Thổ nhưỡng, Khí hậu, tính cách con người, Phong tục, Văn tự, Pháp luật rồi giống như Nước Khuất Chi, Ngôn ngữ không khác là bao nhiêu; phục sức th́ áo vải mịn, giày vải thô, được nước láng giềng coi trọng. Chùa có mấy chục ngôi, tăng chúng hơn 1,000 người, theo Tiểu Thừa, thuộc tông Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ”.
Những cái Sai của Thích Như Điển.
~ Tên nước là “Bạt Lộc Ca”, không là “Phạt Lục Già” như Thích Như Điển phiên âm.
Bạt Lộc Ca, Phạn văn là Bālukā, hoặc Vālukā.
Sử thư Hồi giáo ghi là Bakhouan, Barwan và Barman.
~ Thích Như Điển lại ghép 2 số 5 và 6 ở đây để thành “56 dặm” khi dịch về chu vi của Kinh thành Bạt Lục Ca. Trong suốt bản dịch Thích Như Điển đều Sai như vậy! Ngoài ra ở đây nguyên tác đâu có nói “thành nội” mà Thích Như Điển viết ba láp!
~ Cả một câu: “Thổ nghi......Ngô n ngữ thiểu dị” Thích Như Điển dịch đă lởm chởm, chỗ dịch chỗ không, mà dịch cũng ba láp, như câu “ngữ ngôn thiểu dị” Thích Như Điển dịch là “Tiếng nói ít đổi khác”. Thiệt là ba láp!
~ Thích Như Điển đă không dịch câu “Tế chiên, tế hạt”.
~ Nguyên tác: “Lân quốc sở trọng” (“được nước láng giềng coi trọng”). Thích Như Điển đă dịch câu này rất bậy là “Có sự giao tiếp với lân bang rất tốt”.
Tiếp liền đoạn trên:
- “Quốc tây bắc hành tam bách dư lí, độ thạch tích, chí Lăng Sơn, thử tắc Thông Lănh bắc nguyên, thủy đa Đông lưu hĩ. Sơn cốc tích tuyết, Xuân, Hạ hợp đống, tuy thời tiêu bán, tầm phục kết băng. Kinh đồ hiểm trở, hàn phong thảm liệt, đa bạo long, nan lăng phạm! Hành nhân do thử lộ giả bất đắc giả y tŕ hồ đại thanh khiếu hoán, vi hữu vi phạm tai họa mục đổ. Bạo phong phấn phát, phi sa vũ thạch, ngộ giả táng một, nan dĩ toàn sinh”.
/ Sđd. Qu. I. Bạt Lộc Ca Quốc. Lăng Sơn cập Đại Thanh Tŕ /.
Thích Như Điển dịch:
- “Phía tây bắc hơn 300 dặm từ núi đá đến Lăng Sơn, phía này có núi cao và b́nh nguyên. Có nhiều sông chảy về hướng Đông, núi cao có tuyết. Mùa xuân mùa hạ vẫn c̣n đóng băng, tùy lúc băng tan rồi trở thành nước. Đường đi hiểm trở, mùa đông gió lạnh thê lương. Nơi đây đa phần những kẻ phạm nhân bị đày, đường đi khó khăn, chẳng mang theo được đồ dùng, kêu nhau lớn tiếng. Nếu có vi phạm th́ nguy đến tính mạng. Gió thổi mạnh làm cát đá bay như mưa. Nếu ai gặp phải chẳng toàn sinh mệnh”.
(Trang 36).
Minh Di.
- “Đi hơn 300 dặm về phía Tây bắc nước (này), vượt qua sa mạc tới Lăng Sơn, th́ đây là b́nh nguyên phía Bắc của dăy Thông Lănh, sông (ở đây) phần nhiều chảy về hướng Đông. Vùng sơn cốc th́ tuyết đóng, mùa Xuân, mùa Hạ tuyết vẫn đóng băng, tuy có lúc cũng tan, để không lâu sau đó lại đóng băng. Đường đi th́ hiểm trở, gió lạnh căm căm có nhiều mưa to, khó chống lại được! Quan chức theo ngă này không được để tù nhân cầm bầu nước mà kêu la, hơi hơ hỏng một chút là tai họa đổ xuống đầu. Gió lớn khi đă nổi lên th́ cát bay đá chạy, kẻ gặp cảnh này th́ sẽ bị (cát, đá) vùi lấp, khó mà giữ được tính mạng”.
[Phụ chú.
~ Thông Lănh. Các khu cao nguyên Pamir (hay Pamirs), dăy Côn Luân Sơn và đoạn phía Tây của Thiên Sơn, tất cả những khu vừa kể thời cổ gọi chung là Thông Lănh.
Cao nguyên Pamir chủ yếu nằm ở vùng Tadzhik (Nga), nhưng cũng trải tới Jammu và Kashmir (Ấn Độ), Pakistan, Afghanistan và mé Tây bắc tỉnh Tân Cương (Trung Quốc).
~ Trong đoạn dẫn trên “Tây Vực Kư” nói “Thủy đa Đông lưu” v́ lẽ là hầu hết sông rạch ở Tây Vực đều chảy về Tây. Đây là điểm đặc biệt nên Huyền Trang mới nói như vậy].
+ Những cái sai của Thích Như Điển.
~ Nguyên tác: “Thạch tích” nói ở đoạn trên nghĩa là sa mạc, không phải là “núi đá” như Thích Như Điển hiểu sai rồi dịch sai!
~ Nguyên tác: “thử tắc Thông Lănh bắc nguyên”, nghĩa là “đây là b́nh nguyên phía bắc của dăy Thông Lănh”.
Thích Như Điển không hiểu Thông Lănh là ǵ nên không dịch!
~ Nguyên tác: “thủy đa Đông lưu”, là “sông [ở đây] phần nhiều chảy về hướng Đông”.
Thích Như Điển dịch là “Có nhiều sông chảy về hướng Đông” th́ chưa chính xác!
~ Nguyên tác: “Sơn cốc tích tuyết” là “Vùng sơn cốc th́ tuyết đóng”.
Thích Như Điển dịch là “Núi cao có tuyết” th́ chưa lột được hết ư của nguyên tác nói về t́nh trạng tuyết tích tụ lâu ngày không tan trên vùng núi cao (thiên niên tuyết).
~ Nguyên tác: “Xuân, Hạ hợp đống, tuy thời tiêu bán, tầm phục kết băng”.
Câu này như đă dịch “mùa Xuân, mùa Hạ tuyết vẫn đóng băng, tuy có lúc cũng tan, để không lâu sau đó lại đóng băng (lại)”.
Thích Như Điển dịch là “Mùa xuân mùa hạ vẫn c̣n đóng băng, tùy lúc băng tan rồi trở thành nước” là dịch bậy câu sau!
~ Thích Như Điển không hiểu 2 chữ “bạo long” nên lờ đi không dịch!
~ Đoạn dịch sau đây của Thích Như Điển thực ngô nghê, chẳng ra cái ǵ hết:
- “Nơi đây đa phần những kẻ phạm nhân bị đày, đường đi khó khăn, chẳng mang theo được đồ dùng, kêu nhau lớn tiếng. Nếu có vi phạm th́ nguy đến tính mạng”.
Nguyên tác chẳng có cái ư nào là “chẳng mang theo được đồ dùng” hết!
Nguyên tác: “bất đắc giả y tŕ hồ đại thanh khiếu hoán, vi hữu vi phạm tai họa mục đổ”. Thích Như Điển không hiểu câu trên, chỉ dịch cho qua truông là “kêu nhau lớn tiếng”.
Nếu Thích Như Điển dịch là “không được kêu nhau lớn tiếng” có lẽ c̣n khá hơn!
Thích Như Điển không biết rằng có những triền núi tuyết, núi đá có những mảng đá hay mảng tuyết không chắc chắn, âm thanh chấn động trong sơn cốc có thể làm cho đá hay tuyết lở xuống gây tai họa! Ư của Huyền Trang trong đoạn trên là ở đó!
Thích Như Điển dịch: “Nếu có vi phạm th́ nguy đến tính mạng”.
Vi phạm cái chi đây, Thích Như Điển?
Nguyên tác: “Bạo phong phấn phát, phi sa vũ thạch, ngộ giả táng một, nan dĩ toàn sinh”.
Thích Như Điển dịch là:
- “Gió thổi mạnh làm cát đá bay như mưa. Nếu ai gặp phải chẳng toàn sinh mệnh”.
Dịch vậy là c̣n thiếu cái ư “bị băo cát vùi lấp”.
Tiếp theo Lăng Sơn là Đại Thanh Tŕ:
- “Sơn hành tứ bách dư lí chí Đại Thanh Tŕ (hoặc danh Nhiệt Hải, hựu vị Hàm Hải.), chu thiên dư lí. Đông Tây trường, Nam Bắc hiệp, tứ diện phụ sơn, chúng lưu giao thấu, sắc đới thanh hắc, vị kiêm hàm khổ, hồng đào hạo hăn, kinh ba cốt ột, long ngư tạp xử, linh quái gián khởi. Sở dĩ văng lai hành lữ đảo dĩ kỳ phúc. Thủy tộc tuy đa, mạc cảm bổ”.
/ Sđd. Qu. I. Bạt Lộc Ca Quốc. Lăng Sơn cập Đại Thanh Tŕ /.
Thích Như Điển dịch:
- “Đi núi suốt như thế hơn 400 dặm th́ tới ao rất lớn, nơi này c̣n gọi là biển nóng, chu vi ngàn dặm. Phía đông tây dài phía nam bắc th́ hẹp, bốn phía đều là núi, nước chảy từ trên ấy xuống. Màu nước xanh đen, vị thường đăng đắng. Sóng chao gió đảo có rồng cá đủ loại, linh quái nổi lên. Cho nên khách văng lai phải tạo phước. Những loài thủy tộc này đa phần là cá lớn”.
(Trang 36).
Minh Di.
- “Đi đường núi hơn 400 dặm th́ tới Đại Thanh Tŕ (hoặc tên Nhiệt Hải, c̣n gọi Hàm Hải) chu vi hơn 1,000 dặm. Đông Tây rộng, Nam Bắc hẹp, bốn bề (đều) là núi, sông rạch từ các nơi đổ về giao hội, nước ánh sắc xanh đen, vị đắng mặn, sóng nước mênh mông xa thẳm, sóng gào ầm ầm, rồng và cá ở lẫn lộn, các loài thủy quái linh dị thay nhau mà xuất hiện! Cho nên, những khách Lữ hành qua lại nơi đây đều cầu cúng để được b́nh yên. Cho nên loài thủy tộc ở đây tuy nhiều nhưng không ai dám bắt”.
[Phụ chú.
Đại Thanh Tŕ. Tên Măn Châu là Đặc Mục Nhĩ Đồ Trác Nhĩ, hay Đồ Tư Khố Nhĩ Hà.
Từ Tùng (1781 - 1848) đời Thanh (1644 - 1911) viết:
- “”Đặc Mục Nhĩ Đồ Trạc Nhĩ”, dịch viết “Đồ Tư Khố Nhĩ Hà”, Đông Tây trường tứ bách dư lí, Nam Bắc quảng xứ bách nhị thập dư lí, hiệp xứ bát thập dư lí, đương “Ba Lặc Khách Thập Trạc Nhĩ” chính Nam thiên ngũ bách dư lí, duyên ngạn chi sa khả tiên thiết cố hữu “Đặc Mục Nhĩ” chi mục dă......
Địa đương Thông Lănh Bắc đạo xung...... Cái tự Bắc lộ biên cảnh phó Hồi Cương giả tất thủ kính ư tư hĩ! Biện Cơ “Tây Vực Kư” vân:..... Nguyên chú: hoặc danh Nhiệt Hải, hựu vị Hàm Hải .......... Thị Thanh Tŕ, Nhiệt Hải giai tư thủy cựu danh. Ḱ sản ngư tự lư, kim Tây Vực cạnh vơng thủ chi, vô phục hướng thời kỳ đảo chi dị”.
/ Tây Vực Thủy Đạo Kư. Qu. V /.
Dịch văn:
- “”Đặc Mục Nhĩ Đồ Trạc Nhĩ”, cũng gọi là “Đồ Tư Khố Nhĩ Hà”, chiều từ Đông qua Tây rộng hơn 400 dặm, chiều Nam Bắc th́ chỗ rộng (nhất) hơn 120 dặm, chỗ hẹp (nhất) hơn 80 dặm, nằm ở phía chính Nam của “Ba Lặc Khách Trạc Nhĩ” hơn 1,500 dặm, cát ở dọc ven hồ có thể dùng nấu sắt, do đó mà có tên “Đặc Mục Nhĩ”......…
Địa khu nằm tại chỗ yếu hại của con đường phía Bắc của Thông Lănh...... Tóm lại con đường ở biên cảnh phía Bắc đi Hồi Cương (Tân Cương) tất yếu phải đi qua đây! (Bộ) “Tây Vực Kí” của Biện Cơ nói:..… Nguyên chú: hoặc tên Nhiệt Hải, c̣n gọi Hàm Hải.......... [Cứ đây] th́ Thanh Tŕ, Nhiệt Hải đều là tên cũ của sông này. Cá ở sông này dạng như cá chép, hiện nay th́ ở Tây Vực người ta thi nhau lưới bắt (thứ cá này), không c̣n việc cầu cúng lạ lùng như thời trước”.
[Phụ chú.
1 dặm đời Thanh = 0.576 km.
Đông Tây 400 dặm = 400 x 0.576 km = 230.4 km.
Nam Bắc:
Chỗ rộng nhất 120 dặm = 120 x 0.576 = 69.12 km.
Chỗ hẹp nhất 80 dặm = 80 x 0.576 km = 46.08 km.
Theo chú thích của Quí Diễn Lâm trong “Đại Đường Tây Vực Kư Hiệu Chú”:
Hồ “Nhiệt Hải” vị trí trong khoảng Bắc Vĩ tuyến 42o 39’, Đông Kinh tuyến 78o 30’.
Hồ cao hơn mặt biển 1,600 m, dài 185 km, rộng 57 km, chỗ sâu nhất là 702 m.
Diện tích 6,200 cây số vuông.
Nhiệt Hải trước vốn thuộc Trung Quốc nhưng năm 1864 th́ bị Nga chiếm.
Sầm Tham (716 - 770) có bài Hành về Nhiệt Hải, trích mấy câu như sau:
Trắc văn Âm Sơn Hồ nhi ngữ,
Tây đầu Nhiệt Hải thủy như chử.
Hải thượng chúng điểu bất cảm phi,
Trung hữu lí ngư trường thả ph́.
Ngạn bàng thanh thảo thường bất hiết,
Không trung bạch tuyết dao tuyền diệt.
(Nhiệt Hải hành tống Thôi Thị Ngự hoàn Kinh).
Mé bên Âm Sơn rợ bàn gẫu,
Bên Tây Nhiệt Hải nước như nấu.
Trên biển chim chóc chẳng dám bay,
Vừa béo lại to cá chép đây.
Cỏ xanh ven nước thường vẫn ánh,
Trên không tuyết trắng xa rồi tán.
Và 2 câu cuối (câu 15, 16):
Bách Đài sương uy hàn bức nhân,
Nhiệt Hải viêm khí vi chi bạc!
Sử đài sương căm lạnh khiếp người,
Nhiệt Hải nồng bức hơi dồn ép!
Thời cổ, trong khuôn viên của Phủ Ngự Sử trồng nhiều cây bách, bởi thế mà người ta gọi Ngự Sử Đài, nơi các quan Ngự Sử làm việc, là Bách Đài.
- “........... Thị thời Ngự Sử phủ lại xá bách dư khu, tỉnh thủy giai kiệt; hựu kỳ Phủ trung liệt bách thụ, thường hữu dă điểu sổ thiên thê túc ḱ thượng, thần khứ mộ lai, hiệu viết ‘triêu tịch điểu’. Điểu khứ bất lai giả sổ nguyệt, trưởng lăo dị chi ......”.
/ Hán Thư. Qu. XXCIII. Chu Bác truyện /.
- “............ Bấy giờ trong phủ Ngự Sử có hơn một trăm căn nhà nhỏ, giếng nước ở đây đều khô cạn; rồi trong (khuôn viên) Phủ trồng (nhiều) cây bách, trên cây thường có cả mấy ngàn con chim rừng tới ở, sáng bay đi chiều tối về, gọi là ‘triêu tịch điểu’. (Có lần) Chim bay đi cả mấy tháng không trở về, những người già cả đều kinh ngạc...... “.
Bách Đài ở đây chỉ nơi làm việc của quan Thị Ngự sử họ Thôi mà Sầm Tham đưa tiễn.
Ngự Sử Đài gồm có 3 Viện.
Sách “Nhân Thoại Lục” của Triệu Lân (? - ?) đời Đường viết:
- “Ngự Sử Đài tam Viện:
~ Nhất viết Đài Viện, kỳ liêu viết Thị Ngự Sử, chúng hô vi Đoan Công…
~ Nhị viết Điện Viện, kỳ liêu viết Điện Trung Thị Ngự Sử, chúng hô vi Thị Ngự…
~ Tam viết Sát Viện, kỳ lêu viết Giám Sát Ngự Sử, chúng hô dịch viết Thị Ngự…
/ Nhân Thoại Lục. Qu. V. Chủy Bộ. Ngự Sử Đài 5 /.
- “Ngự Sử Đài có 3 Viện:
~ Một là Đài Viện, đồng liêu gọi là Thị Ngự Sử, mọi người gọi là Đoan Công…
~ Hai là Điện Viện, đồng liêu gọi là Điện trung Thị Ngự Sử, mọi người gọi là Thị Ngự…
~ Ba là Sát Viện, đồng liêu gọi là Giám Sát Ngự Sử, mọi người cũng gọi là Thị Ngự…”.
Chức Thị Ngự Sử lập dưới Tần triều (221 - 206 tr. Cn), Hán triều (206 tr.Cn - 220 Cn) cũng noi theo. Địa vị của Thị Ngự Sử dưới Ngự Sử Đại Phu.
Chức chưởng của Thị Ngự Sử gồm có các việc hoặc lo liệu việc trong Cung điện, hoặc nêu ra những việc phi pháp của các quan, hoặc thanh tra quận, huyện, hoặc xuất Sứ.
Thời Đông Hán (25 - 220) đặt thêm chức Trị Thư Thị Ngự Sử, mọi việc lúc vua ăn chay viên chức này hầu một bên lo việc văn thư. Sau cũng coi các việc về Tư pháp.
Từ thời Ngụy (220 - 265) về sau lại có chức Điện Trung Thị Ngự Sử ở trong Cung xem xét các việc phi pháp.
Thời Đường (618 - 907) cải Trị Thư Thị Ngự Sử thành Ngự Sử Trung Thừa, là phó của Ngự Sử Đại Phu, và các chức Thị Ngự Sử, Điện Trung Thị Ngự Sử, Giám Sát Ngự Sử phân ra cầm đầu Đài Viện, Điện Viện, Sát Viện 3 Viện của Ngự Sử Đài.
Các chức Ngự Sử có trách vụ xét việc làm phi pháp của các quan, can gián vua, v́ vậy quan lại làm việc bất pháp đều sợ các chức này, giống như gặp sương lạnh. V́ vậy mà Sầm Tham viết “Bách đài sương uy hàn bức nhân”.
+ Những cái Sai của Thích Như Điển.
~ Không rơ Thích Như Điển có biết là danh xưng “Nhiệt Hải” - mà Thích Như Điển dịch là “biển nóng”, là ghi chú của Huyền Trang, trong nguyên tác in chữ nhỏ, trong dịch văn của tôi, để phân biệt, tôi cũng ghi chữ nhỏ và để trong ngoặc đơn.
Ở đây Thích Như Điển đă để chính văn và ghi chú của tác giả lẫn lộn.
Lại nữa, Nhiệt Hải là tên riêng, nên để nguyên không dịch th́ phải hơn!
Trong ghi chú của Huyền Trang, ngoài Nhiệt Hà, Đại Thanh Tŕ c̣n 1 tên gọi khác nữa là “Hàm Hải” (Biển Mặn). Thích Như Điển không rơ tên gọi thứ 2 này của Nhiệt Hải, tức thiếu mất 4 chữ “hựu vị Hàm Hải” trong ghi chú của Huyền Trang.
Thích Như Điển nói là ḿnh dịch “Đại Đường Tây Vực Kí” từ bản chữ Hán, thế nhưng không hiểu sao Thích Như Điển lại dịch thiếu rất nhiều chữ, và tất cả đều là những chữ thông thường?
Hay là ở đây Thích Như Điển cũng giở tṛ ḷe bịp thiên hạ như Phạm Văn Bân khi dịch cuốn “Chân Lạp Phong Thổ Kư”? Hoặc nói cho rơ hơn, Thích Như Điển đă dịch cuốn “Đại Đường Tây Vực Kư” từ 1 bản dịch Anh văn, hay Pháp văn, hoặc giả cũng có thể từ một bản dịch Đức văn mà lại đi bịp, nói là dịch từ bản gốc Hán văn?
~ Nguyên tác: “chúng lưu giao thấu” (sông rạch từ các nơi đổ về giao hội).
Thích Như Điển dịch là “nước từ trên ấy chảy xuống” th́ sai cả dặm đường!
~ Nguyên tác: “vị hàm khổ” (vị đắng mặn).
Thích Như Điển dịch là “vị thường đăng đắng” th́ thiếu chính xác!
~ Nguyên tác: “hồng đào hạo hăn, kinh ba cốt ột”.
Thích Như Diển dịch câu trên là “Sóng chao gió đảo” th́ phải nói là bậy bạ quá đi!
~ Nguyên tác: “linh quái gián khởi”. (Các loài thủy quái linh dị thay nhau mà xuất hiện).
Thích Như Điển dịch là “linh quái nổi lên” chứng tỏ Thích Như Điển chẳng hiểu ǵ cả!
Câu “gián khởi”, hay “gián xuất”, có nghĩa là “thay nhau xuất hiện”, “lần lượt xuất hiện”.
~ Nguyên tác: “Sở dĩ văng lai hành lữ đảo dĩ kỳ phúc”, nghĩa là “Cho nên, những khách lữ hành qua lại nơi đây đều cầu cúng để được b́nh yên”.
Thích Như Điển dịch: “Cho nên khách văng lai phải tạo phước”.
~ Nguyên tác: “Thủy tộc tuy đa, mạc cảm bô”.
Thích Như Điển dịch: “Những loài thủy tộc này đa phần là cá lớn”.
Có lẽ không cần nói cũng biết câu dịch này của Thích Như Điển ra sao rồi!
Nguyên tác. Toát Đổ Lợi Sắt Na 7 / 34.
- “Toát Đổ Lợi Sắt Na quốc chu thiên tứ, ngũ bách lí, Đông lâm Diệp hà. Diệp hà xuất Thông Lănh bắc nguyên, Tây bắc nhi lưu, hạo hăn, hỗn trọc, cốt ột phiêu cấp! Thổ nghi phong tục đồng Giả Thời quốc. Tự hữu vương, phụ Đột Quyết”.
/ Sđd. Qu. I. Toát Đổ Lợi Sắt Na quốc /.
Thích Như Điển dịch:
- “Nước Tốt Đỗ Lợi Sắc Na chu vi một ngàn bốn trăm năm chục dặm, phía đông giáp sông Diệp, từ sông Diệp nầy về hướng b́nh nguyên phía bắc, từ tây bắc chảy tiếp tục với lưu lượng nước chảy xiết, đất đai phong tục cũng giống như nước Giả Thời, từ xưa đă có Vương Phủ cai trị”.
(trang 39).
Minh Di.
- “Nước Toát Đổ Lị Sắt Na chu vi một ngàn 4, 5 trăm dặm, mặt Đông giáp sông Diệp. Sông Diệp bắt nguồn từ b́nh nguyên phía Bắc của dăy Thông Lănh, (rồi từ đây) chảy theo hướng Tây bắc, (mặt sông) mênh mông, xa thẳm, nước đục ngầu, ồ ạt chảy gấp! Thổ nhưỡng, phong tục giống như nước Giả Thời. (Nước này) có vua riêng, phụ thuộc nước Đột Quyết”.
+ Những cái Sai của Thích Như Điển.
1). Phiên âm sai.
Toát Đổ Lị (Lợi) Sắt Na. Thích Như Điển phiên âm chữ “Sắt” là “Sắc” (Să+c) là sai.
Chữ “Sắt” này là 1 loại nhạc khí dây, thường đi đôi với chữ Cầm: Cầm Sắt. Bởi thế mà người ta dùng tiếng này để chỉ t́nh vợ chồng thắm thiết!
2). Dịch sai.
Cứ đối chiếu với nguyên tác th́ thấy Thích Như Điển dịch vừa sai lại vừa thiếu.
~ Chu vi nước Toát Đổ Lị (Lợi) Sắt Na là một ngàn bốn trăm hoặc một ngàn năm trăm dặm, chứ không là 1,450 dặm như Thích Như Điển dịch. Con số nguyên tác nêu ở đây là con số phỏng chừng mà thôi! Và rồi, trong suốt Tập Kư sự Đại Đường Tây Vực Kư những con số về chiều dài, về dung lượng hầu hết đều có tính cách ước lượng.
~ Nguyên tác nói “Tự hữu vương” nghĩa là “Có vua riêng”, nghĩa là triều đ́nh được lập theo ư người xứ này. Thích Như Điển dịch chữ Vương là “Vương Phủ” th́ sai quá đi!
3). Dịch thiếu.
~ Nguyên tác có nói rơ khởi nguyên của Sông Diệp là từ “b́nh nguyên ở phía Bắc của dăy Thông Lănh.
Thế nhưng, chi tiết này lại không thấy đâu trong đoạn phiên dịch của Thích Như Điển.
~ Tiếp đến, những tính chất của Diệp hà như:
- Nước sông “mênh mông xa thẳm” (hạo hăn), nước sông “đục ngầu” (hỗn trọc), cũng như “ồ ạt, chảy gấp” (cốt ột, phiêu cấp).
Tất cả những chi tiết trên đây cũng chẳng thấy đâu trong dịch văn của Thích Như Điển!
~ Và sau hết, tác giả “Tây Vực Kư” cho biết nước Toát Đổ Lợi Sắt Na phụ thuộc nước Đột Quyết, chi tiết này cũng không thấy trong dịch văn của Thích Như Điển!
Nguyên tác. Đạt Mật Quốc 17 / 34.
Huyền Trang (602 - 664) ghi lại trong Đại Đường Tây Vực Kư:
- “Đạt Mật quốc Đông Tây lục bách dư lư, Nam Bắc tứ bách dư lư. Quốc Đại đô thành chu nhị thập dư lí, Đông Tây trường, Nam Bắc hiệp. Già lam thập dư sở, tăng đồ thiên dư nhân! Chư toát đổ ba [tức cựu sở vị Phù đồ dă, hựu viết Thu bà, hựu viết Tư thu bả, hựu viết Tẩu đẩu ba, giai ngoa dă.]cập Phật tôn tượng đa thần dị, hữu linh giám!
Đông chí Xích Ngạc Diễn Na quốc”.
/ Đại Đường Tây Vực Kư. Qu. I. Đạt Mật quốc /.
Thích Như Điển dịch lếu láo, phiên âm cũng sai đến không tưởng ra được!
Hăy đọc phần dịch của Thích Như Điển:
- “Nước Đăn Mật Quốc chu vi đông tây hơn 600 dặm, nam bắc hơn 400 dặm. Thủ đô của nước này hơn 20 dặm. Có hơn 10 cảnh chùa . Tăng tín đồ hơn 1.000 người. Nước này nằm gần biên giới của nước Tốt Đỗ Lợi. Nơi đây, có xây nhiều ngọn tháp ; nhưng nay đă không c̣n. Các tượng Phật cũng như các tượng thần linh dáng vẽ khác nhau. Đi đến phía đông th́ gặp nước Diệc Ngạc Hạnh Na”.
(trang 42).
~ Sau đây là phần chuyển dịch chính xác của tôi, độc giả cứ đối chiếu sẽ nhận ra được khả năng của Thích Như Điển về phương diện Hán văn! Đối chiếu, độc giả rồi sẽ thấy Thích Như Điển chẳng những phiên âm sai mà c̣n dịch sai, dịch láo!
Chỉ một đoạn văn ngắn - chỉ 61 chữ mà Thích Như Điển sai tràn lan, và toàn là những lỗi nặng!
- “Nước Đạt Mật Đông Tây bề rộng hơn 600 dặm, Nam Bắc chiều dài hơn 400 dặm. Kinh thành nước này chu vi hơn 20 dặm. Chùa có mười mấy cái, tăng chúng có hơn ngàn người. Các ngôi Phật tháp [tức trước kia gọi là Phù đồ, cũng gọi là Thu bà, cũng gọi là Tư thu bả, cũng gọi là Tẩu đẩu ba, tất cả đều sai] và các tượng Phật tôn nghiêm phần lớn linh thiêng lạ lùng, có linh ứng!
(Đi về) phía Đông th́ đến nước Xích Ngạc Diễn Na”.
Toát đổ ba, gọi tắt là “Toát đổ”, là dịch âm từ tiếng “Stupa”, và có nghĩa là Phật Tháp.
Ngoài ra, có một số tiếng nữa như Suất đô bà, Tố đổ ba, Tẩu đấu bà...... tất cả đều là phiên âm từ tiếng “Stupa”.
(Tham khảo Đinh Phúc Bảo, Phật Học Đại Từ Điển).
Vương An Thạch (1021 - 1086) có mấy bài Luật thi đề cập tiếng Toát đổ, Toát đổ ba:
Đạo Lâm chân cốt táng thanh tiêu,
Toát đổ thiên thu vị tịch liêu.
/ Vương Lâm Xuyên Tập. Qu. XVII. Luật thi 4. Bắc Sơn tam vịnh. Bảo công tháp /.
Đạo Lâm xương thánh gởi mây xanh,
Tháp Phật thiên thu chẳng lặng tanh.
Và một bài khác:
Chu Ngung trạch tác a lan nhă,
Lũ ước thâm qui toát đổ ba.
/ Sđd. Qu. XXIX. Luật thi 16. Dữ Đạo Nguyên quá Tây Trang toại du Bảo Thặng /.
Chu Ngung nhà lấy làm tăng xá,
Những hẹn mong về tháp Phật đà.
[Phụ chú.
A Lan Nhă, Phạn ngữ là Ᾱriṇya, là danh xưng chỉ chung Tự viện (Chùa chiền), tức chỗ cư trú của Tăng chúng.
A Lan Nhă c̣n một số danh xưng nữa là: - A Lan Na, A Lan Nhương, A Lan Nhă Ca, A Luyện Nhă, A Lạn Na, A Luyện Như, Át Thích Nhai.
Vô tranh thanh (không tiếng tranh căi), nhàn tịch (an nhàn, tĩnh lặng), viễn li xứ - đây là những nghĩa dịch của tiếng A Lan Nhă.
Vô tranh thanh, vô tranh trong các bản dich Việt ngữ thường đọc là vô tránh].
Phật tháp c̣n được gọi là phương phần, viên trủng, linh miếu...… là nơi để các thứ như xương, răng, tóc...... của danh tăng, và xá lợi Phật.
+ Những cái Sai của Thích Như Điển:
1). Phiên âm.
~ Chữ “Đạt” [] Thích Như Điển phiên âm sai thành “Đăn”.
Từ điển Từ Nguyên:
- “[]. Đương Cát thiết, Nhập, Át vận. Đoan”.
- “[]. Thiết âm là Đương + Cát, Nhập thanh, vận Át. Phụ âm đầu của chữ Đoan”.
~ Xích Ngạc Diễn Na, tên nước có 4 chữ Thích Như Điển sai đến 2 chữ! Như Điển đă phiên âm là “Diệt Ngạc Hạnh Na”.
Chữ Xích (màu đỏ) Thích Như Điển nhận lầm thành chữ “Diệt”)! Có lẽ Thích Như Điển muốn nói chữ “Diệc” (hay Dịch = cũng); nếu thế Thích Như Điển lại viết sai cả chính tả Việt ngữ!
Xích / Dịch (Diệc), 2 chữ này chỉ khác nhau một chút, Thích Như Điển học v́ Hán văn lem nhem nên nh́n gà hóa quốc!
Chữ “Diễn” gồm chữ “Hành” (= đi) ở giữa có 3 chấm “Thủy” (= nước), Thích Như Điển học hành ra làm sao, nh́n như thế nào mà đọc thành chữ “Hạnh”,
2). Phiên dịch.
~ “Nước Đăn Mật Quốc chu vi đông tây hơn 600 dặm, nam bắc hơn 400 dặm”.
Ở đây “Tây Vực Kư” nói diện tích, không nói chu vi! Nói Đông Tây – Nam Bắc là nói diện tích, chuyện sơ đẳng như vậy mà Như Điển cũng không biết th́ biết ǵ đây?
~ Thích Như Điển dịch: “Tăng tín đồ hơn 1.000 người”.
Nguyên tác viết là “tăng đồ”, tức “tăng chúng”, chỉ những người đi tu.
C̣n “tín đồ” là những người tin theo một tông giáo nào đó, ở đây là Phật giáo.
~ Tiếp đến, đối chiếu nguyên tác th́ thấy không có một chỗ nào trong đoạn dẫn trên có điều mà Thích Như Điển dịch:
- “Nước này nằm gần biên giới của nước Tốt Đỗ Lợi”.
- “Nơi đây có xây nhiều ngọn tháp; nhưng nay đă không c̣n”.
~ Thích Như Điển c̣n thiếu 24 chữ ghi chú [in chữ nhỏ trong nguyên tác].
Trong đoạn nguyên tác dẫn trên có câu:
- “Chư toát đổ ba cập Phật tôn tượng đa thần dị, hữu linh giám”.
Câu này Thích Như Điển dịch rất sai lạc như sau:
Các tượng Phật cũng như các tượng thần linh dáng vẽ khác nhau.
Nguyên tác. Hốt Lẫm Quốc 27 / 34.
- “Hốt Lẫm quốc chu bát bách dư lí, quốc đại đô thành chu ngũ, lục lí. già lam thập dư sở, tăng đồ ngũ bách dư nhân”.
Thích Như Điển dịch:
- “Nước Nhẫn Lẫm chu vi hơn 800 dặm. Đô thành chu vi 56 dặm. Nơi đây có 10 ngôi chùa. Tăng tín đồ hơn 500 người. Phía tây giáp với nước Phược Yết”.
(trang 42).
Minh Di.
- “Nước Hốt Lẫm chu vi hơn 800 dặm, chu vi Kinh Thành (khoảng) 5, (hoặc) 6 dặm. (Trong nước) có hơn 10 ngôi chùa, tăng chúng hơn 500 người”.
+ Những cái Sai của Thích Như Điển.
1). Phiên âm.
Hốt Lẫm, chữ “Hốt” mà Như Điển phiên âm thành chữ “Nhẫn”. Ô hô!
Chữ “Hốt” ở đây trên là chữ “vật” (= chớ, đừng), dưới là bộ Tâm.
Chữ “Nhẫn” (= nhịn, chịu đựng) trên là chữ “nhận” (= mũi nhọn của đao, kiếm), dưới là bộ Tâm.
2 Chữ “Hốt” và “Nhẫn” khác nhau có một chút, học hành chưa tới như Như Điển đây th́ có sai cũng là chuyện phải xảy ra!
Nước Hốt Lẫm tức Khulm, di chỉ hiện nay ở miền bắc A Phú Hăn (Afghanistan), ở mé ngoài thành Tash-Qurghan.
2). Phiên dịch.
~ Nguyên tác nói “Kinh thành chu vi 5 (hay) 6 dặm (ngũ, lục lí)” thế mà Thích Như Điển lại dịch thành “56 dặm”!
~ Nguyên tác nói “tăng đồ” mà Thích Như Điển lại dịch là “tăng tín đồ”, cũng Sai như ở đoạn trước!
Nguyên tác. Phược Át Quốc 28 / 34.
- “Phược Át quốc....
Thành ngoại tây nam hữu Nạp Phược tăng già lam....... Già lam nội Nam Phật đường trung hữu Phật tảo quán, lượng khả đấu dư. Tạp sắc huyễn diệu, kim thạch nan danh. Hựu hữu Phật nha, ḱ trường thốn dư, quảng bát, cửu phân, sắc hoàng bạch, chất quang tĩnh. Hựu hữu Phật tảo trửu, ca sa thảo tác dă, trường dư nhị xích vi khả thất thốn, kỳ bả dĩ tạp bảo sức chi.
Phàm thử tam vật, mỗi chí lục trai, pháp, tục hàm hội, trần thiết cung dưỡng, chí thành sở cảm, hoặc phóng quang minh.
Già lam Bắc hữu TOÁT ĐỔ BA, cao nhị bách dư xích, kim cương nê đồ. chúng bảo trắc sức, trung hữu xá lị, thời chúc linh quang.
Già lam tây nam.... Cố chư La Hán tương nhập Niết bàn, thị hiện thần thông, chúng sở tri thức, năi hữu kiến lập chư Toát đổ ba, cơ tích tương lân, số bách dư hĩ!”.
/ Sđd trên. Qu. I. Phược Át quốc. Nạp phược tăng già lam /.
Thích Như Điển dịch:
- “Trong đất Già lam này ở phía nam Phật Đường có nhiều tượng Phật màu sắc vàng của đá khác nhau. Đây cũng có răng Phật, chiều dài hơn mấy tấc, chiều rộng 8, 9 phân. Răng có màu vàng trắng chiếu ánh sáng, lại cũng có áo Cà Sa của Phật ngay cả Y Tăng Già Lê cũng có. Chiều dài hơn hai thước, chiều ngang bảy tấc. Gồm nhiều vật quư hợp thành. Ba vật quư này mỗi năm đến kỳ tế lễ chư Tăng đem trần thiết trang hoàng để cúng dường. V́ sự chí thành cảm ứng nên răng đă phóng quang.
Phía ngoài thành tây nam có Già lam lớn ..… Phía bắc của chùa này có tháp cao hơn 20 thước. Gọi là tháp Kim Cang. Trong đó trang trí nhiều đồ quư và ở giữa có thờ xá lợi rất quư giá.
Phía tây nam của chùa .…Tại đây cũng có vị A La Hán đă nhập Niết Bàn và đă thị hiện thần thông mọi người biết được. Cho nên những tháp khác được mọc lên số kể hơn trăm ngôi”.
(trang 45).
Minh Di.
- “Nước Phược Át ....
Ở ngoài (Kinh) thành về phía tây nam có chùa tăng Nạp Phược ......
Trong Phật đường phía Nam của Chùa có cái b́nh đựng nước tắm của Phật, chứa cũng tới hơn một đấu. Lại có các vật quí bằng vàng, bằng đá rực rỡ khó nói tên được! Lại có cái răng Phật dài hơn 1 tấc, rộng 8, 9 phân, sắc trắng ngà, sáng bóng, tinh khiết! Lại có cây chổi của Phật, làm với cỏ Ca sa, dài hơn 2 thước, chu vi cũng tới 7 tấc, cán chổi được trang sức với những vật quí khác nhau.
3 vật quí này, mỗi lần đến ngày lục trai th́ tăng cũng như tục đều tụ hội lại đem ra bày để mọi người cúng dường, do ḷng chí thành cảm ứng mà có lúc những vật này phát ra ánh sáng!
Phía bắc Chùa có Phật tháp cao hơn 200 thước, bằng đá hoa cương. Trong tháp các vật quí trang trí ở 2 bên, ở giữa để xá lợi Phật, (các xá lợi này) thường phát ra ánh sáng linh thiêng.
Ở phía tây nam Chùa....… Cho nên các bậc La Hán lúc sắp nhập Niết bàn th́ thị hiện thần thông, mọi người hay biết nên xây những Tháp Phật, nền cũ của những tháp này nằm gần nhau, tính đến hơn trăm Tháp!”.
[Phụ chú.
~ 1 thăng đời Đường qui ra hệ thống SI = 0.5944 L.
10 thăng = 1 đấu, vậy 1 đấu = 0.599 x 10 = 5.99 L.
~ 1 xích đời Đường qui ra hệ thống SI = 31.10 cm = 0.311 m.
Tháp cao 200 thước = 0.311 m x 200 = 62.20 m.
~ Cỏ ca sa. Ca sa dịch âm Phạn ngữ kasá, tên khoa học: Saccharum Spontaneum, là 1 loại cỏ tranh, cũng thường được dùng để làm tọa cụ.
~ Lục trai. 6 ngày chay trong tháng, là các ngày mồng 8, 14, 15, 23, 29, 30 âm lịch.
Phật tử cho rằng 6 ngày này là 6 ngày Tứ Thiên Vương đi quan sát việc thiện, ác của loài người, và cũng là những ngày ác quỉ đi ḍ xét nhân gian. Bởi thế trong 6 ngày này th́ phải cẩn thận trong mọi hành vi].
+ Những cái Sai của Thích Như Điển.
~ Nguyên tác: “Nạp Phược” (hay Nạp Phọc), là dịch âm từ Phạn ngữ “nava” – ư nghĩa là “mới”, cho nên “Nạp Phược tăng già lam” dịch là “chùa mới cho tăng” - trong khi đó Thích Như Điển lại dịch sai là “Già lam lớn”.
~ Nguyên tác: “Già lam nội Nam Phật đường trung”.
Thích Như Điển dịch là “Trong đất Già lam này ở phía nam Phật Đường”, dịch như vậy là thiếu chính xác.
~ Nguyên tác: ”Phật nha, kỳ trường thốn dư” (“Răng Phật, dài hơn 1 tấc”).
Vậy mà Thích Như Điển dịch là “răng Phật, chiều dài hơn mấy tấc”.
~ Nguyên tác nói “Hựu hữu Phật tảo trửu, ca sa thảo tác dă, trường dư nhị xích, vi khả thất thốn, kỳ bả dĩ tạp bảo sức chi”.
- “Lại có cây chổi của Phật, làm với Cỏ ca sa, dài hơn 2 thước, chu vi cũng tới 7 tấc, cán chổi được trang sức với những vật quí khác nhau”.
Thích Như Điển dịch là “lại cũng có áo Cà Sa của Phật,ngay cả Y Tăng Già Lê cũng có. Chiều dài hơn hai thước, chiều ngang bảy tấc”. Thực Lếu láo!
~ Nguyên tác: “Phàm thử tam vật, mỗi chí lục trai”.
- “3 vật quí này, mỗi lần đến ngày lục trai”.
Thích Như Điển dịch ba láp là “Ba vật quư này mỗi năm đến kỳ tế lễ chư Tăng”.
Ngoài ra, Thích Như Điển nói cho độc giả biết nguyên tác chỗ nào nói “mỗi năm”?
~ Nguyên tác: “chí thành sở cảm, hoặc phóng quang minh”.
- “do ḷng chí thành cảm ứng mà có lúc những vật này phát ra ánh sáng!”.
Thích Như Điển dịch là “V́ sự chí thành cảm ứng nên răng đă phóng quang”.
Dịch như Thích Như Điển th́ lúc nào “3 vật quí” đă kể lúc nào cũng phát ra ánh sáng!
Nguyên tác nó “có lúc” chứ không là “lúc nào cũng”, tức luôn luôn.
~ Nguyên tác nói Tháp “cao nhị bách dư xích” (“cao hơn 200 thước”) - Thích Như Điển lại dịch là “cao hơn 20 thước”.
Đă nói, 1 thước (xích) thời Đường = 0.311 m.
Tháp cao hơn 200 thước là cao: 0.311 m x 20 = 62.2 m.
Trong khi, nói như Thích Như Điển th́ Tháp chỉ cao có 6.22 m.
~ Nguyên tác: “kim cương nê đồ”, vậy mà Như Điển dịch là “Gọi là tháp Kim Cương”.
Thích Như Điển không biết rằng “kim cương” nói ở đoạn trên tức chỉ đá hoa cương, mà trong ngôn ngữ thông thường gọi là đá xanh.
~ Nguyên tác nói “chúng bảo trắc sức” nghĩa là “các vật quí trang trí ở 2 bên”, vậy mà Thích Như Điển lại dịch thiếu là “Trong đó trang trí nhiều đồ quư”, thiếu mất ư “2 bên”.
Ở đây Đại Đường Tây Vực Kư tự thuật về vị trí bày biện các vật trong Phật tháp:
- “các vật quí trang trí ở 2 bên”, trong khi đó “ở giữa để xá lợi”, tự thuật rất phân minh.
Liền theo đó là Câu “thời chúc linh quang” (“thường phát ra ánh sáng linh thiêng”), và Thích Như Điển đă không dịch câu này, không hiểu để mà dịch th́ đúng hơn!
~ Nguyên tác viết rơ là “chư La Hán”, tức có nhiều vị La Hán, thế mà Thích Như Điển lại dịch là “có vị A La Hán” - tức là chỉ có một người. Chữ “chư” ở đây nghĩa là ǵ đây Thích Như Điển, tra lại Từ điển đi!
~ Nguyên tác nói là “.… chư toát đổ ba, cơ tích tương lân, số bách dư hĩ!” - có nghĩa là “.… nền cũ của những tháp (này) nằm gần nhau, tính đến hơn trăm Tháp”.
Cơ tích là “dấu tích của nền (tháp)”.
Câu trên đây trong “Đại Đường Tây Vực Kư” rồi không thấy đâu cả trong dịch văn của Thích Như Điển.
Và không chỉ ở đây mà dài dài trong bản dịch, ở đâu cũng thế Thích Như Điển lúc nào cũng dịch thiếu không 1 câu th́ cũng vài ba câu như vậy!
Lại ở một đoạn khác:
- “ĐẠI THÀNH tây bắc ngũ thập dư lư, chí Đề Vị Thành - Thành bắc tứ thập dư lư hữu Ba Lị Thành. Thành trung các hữu nhất Toát đổ ba, cao dư tam trượng”.
/ Sđd trên. Qu. I. Phược Át quốc. Đề Vị Thành cập Ba Lị Thành /.
Thích Như Điển dịch:
- “Chu vi thành hơn 50 dặm. Tiếp đến là thành khác. Thành phía bắc hơn 40 dặm. Tiếp đó có thành Ba Lợi. Ở trong thành có một ngôi tháp cao 3 thước”.
(trang 46).
Minh Di.
- “(Đi về) phía tây bắc THÀNH LỚN hơn 50 dặm th́ tới Thành Đề Vị - phía bắc Thành hơn 40 dặm có Thành Ba Lị. (2 Thành này) trong mỗi Thành đều có 1 Tháp Phật, cao hơn 3 trượng”.
[Phụ chú. Thời Đường, 1 Trượng = 10 xích = 0.311 m x 10 = 3.11 m.
Tháp cao 3 trượng là cao 3.11 m x 3 = 9.33 m].
+ Những cái Sai của Thích Như Điển.
Thích Như Điển dịch sai, dịch thiếu lung tung!
~ Không hiểu sao mà trong đoạn dịch văn trên đây của Thích Như Điển lại không thấy Đại Thành (Kinh Thành), không thấy Thành Đề Vị?
Nói “hơn 50 dặm” là nói khoảng cách từ Kinh đô nước Phược Át tới thành Đề Vị.
~ Cứ so 2 câu “Chu vi thành hơn 50 dặm. Tiếp đến là thành khác” Thích Như Điển dịch trên đây với nguyên tác th́ thấy chẳng ăn nhập với những ǵ nguyên tác viết cả!
Nguyên tác tự thuật rành rành 2 ṭa thành, một là Đề Vị, hai là Ba Lị (Ba Lợi).
Và chẳng rơ Thích Như Điển dịch ra làm sao mà chỉ c̣n có một Thành Ba Lị. Lại nữa về thành này dịch cũng sai:
Nguyên tác nói là trong thành Ba Lị có một cái “Tháp cao 3 trượng” - mà không phải là tháp “cao 3 thước” như Thích Như Điển dịch ba láp! Ba láp v́ Thích Như Điển mù tịt về hệ thống đo lường thời Huyền Trang.
Coi kỹ lại đi Thích Như Điển, là 3 trượng, chứ không phải là 3 thước!
Như đă nói, 1 thước (xích) thời Đường = 0.311 m.
Dịch như Thích Như Điển th́ “tháp cao 3 thước” là cao: 0.311 m x 3 = 0.933 m - tức là chưa đến 1 thước (1 m)! Ô hô!
Nguyên tác. Yết Chức Quốc 32 / 34.
- “Yết Chức Quốc Đông Tây ngũ bách dư lí, Nam Bắc tam bách dư lí. Quốc đại đô thành chu tứ, ngũ lí. Thổ địa khao hạc, lăng phụ liên thuộc. Thiểu hoa quả, đa thục mạch. Khí tự hàn liệt, phong tục cương mănh! Già Lam thập dư sở, tăng đồ tam bách dư nhân, tịnh học Tiểu Thừa giáo Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ”.
/ Sđd. Qu. I. Yết Chức Quốc /.
Thích Như Điển dịch:
- “Nước Yết Chức đông tây hơn 500 dặm; nam bắc hơn 300 dặm. Đô thành chu vi 45 dặm. Đất đai ph́ nhiêu nhưng ít hoa quả, nhiều lúa mạch. Khí hậu lạnh, phong tục lành mạnh. Có hơn 10 cảnh chùa. Tăng tín đồ trên 300 người. Họ theo phái Tiểu Thừa thuộc Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ”.
(trang 47).
Minh Di
- “Nước Yết Chức Đông Tây hơn 500 dặm, Nam Bắc hơn 300 dặm. Kinh Đô chu vi ước 4, (hay) 5 dặm. Đất đai cằn cỗi, g̣ nỗng liền nhau! Ít hoa quả, trồng nhiều các thứ đậu và lúa mạch! Khí hậu lạnh lẽo, con người tính t́nh cứng rắn mạnh mẽ! Chùa có trên chục cái, tăng đồ hơn 300 người, đều theo Thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ bên Tiểu Thừa”.
+ Những cái Sai của Thích Như Điển.
Trước hết, Thích Như Điển dịch sai chu vi Kinh Sư Yết Chức là 45 dặm, thay v́ chỉ có 4 hay 5 dặm, rồi dịch thiếu câu “lăng, phụ liên thuộc” (g̣ nỗng liền nhau).
Kế đó, về thổ sản lại thiếu “các thứ đậu” (thục).
Càng dịch Thích Như Điển càng viết láo, viết xằng viết bậy, bất kể tội / phước!
~ Nguyên tác: “Thổ địa khao hạc”, nghĩa là “Đất đai khô cằn”, vậy mà Thích Như Điển lại dịch láo là “Đất đai ph́ nhiêu”.
Từ điển Từ Nguyên giải tiếng “Khao hạc” như sau:
- “[Khao hạc]. Thổ địa tích bạc”. Nghĩa là “Đất đai cằn cỗi”.
Tự thân chữ “Khao” đă có nghĩa là “đa thạch tích bạc chi địa” (đất cằn cỗi có nhiều đá). Và như vậy th́ “ph́ nhiêu” ở cái chỗ nào đây, Thích Như Điển?
~ Tính t́nh con người xứ Yết Chức “cứng rắn, mạnh mẽ” (cương mănh), thế nhưng Thích Như Điển lại dịch rất láo là “phong tục lành mạnh”.
Nguyên tác. Phạm Diễn Na Quốc 33 / 34.
- “Phạm Diễn Na Quốc Đông Tây nhị thiên dư lí, Nam Bắc tam bách dư lí, tại Tuyết Sơn chi trung dă. Nhân y sơn cốc, trục thế ấp cư. Quốc Đại đô thành cứ nhai khóa cốc, trường lục, thất lí, Bắc bối cao nham. Hữu túc mạch, thiểu hoa quả, nghi súc mục, đa dương, mă. Khí tự hàn liệt, phong tục cương quảng. Đa ư b́ hạt, dịch kỳ sở nghi! Văn tự, phong giáo, hóa tệ chi dụng đồng Đổ Hóa La Quốc, ngữ ngôn thiểu dị, nghi mạo đại đồng. Thuần tín chi tâm đặc thậm lân quốc, thượng tự Tam Bảo, hạ chí bách Thần, mạc bất thâu thành kiệt tâm tông kính. Thương cổ văng lai giả, thiên thần hiện trưng tường, thị sùng biến, cầu phúc đức.
Già lam sổ thập sở, tăng đồ sổ thiên nhân, tông học Tiểu Thừa Thuyết Xuất Thế Bộ”.
/ Sđd. Qu. I. Phạm Diễn Na Quốc /.
Thích Như Điển dịch:
- “Nước Phạm Hạnh Na đông tây hơn 2.000 dặm; nam bắc hơn 300 dặm. Nằm ngay trong núi tuyết. Người người hay sống trong hang động. Đô thành đa phần cũng là động đá. Chiều dài 67 dặm. Phía bắc rất cao, có lúa mạch, ít hoa quả. Nuôi gia súc, đa phần là dê và ngựa. Khí hậu lạnh, phong tục tốt đẹp, đa phần ăn mặc kín đáo. Chữ nghĩa phong tục do sự giáo hóa mà thành. Sử dụng tiền tệ giống như nước Đô Hóa La. Ngôn ngữ ít có sự sai khác. Lễ nghi đại khái giống nhau. Có ḷng tin cũng giống như nước láng giềng. Trên cũng kính Tam Bảo, dưới cho đến thần dân không bị mất cướp, thành thật, tâm địa tôn kính. Có nhiều khách thương văng lai. Thiên thần thường hay xuất hiện. Đó là do sự biến hóa của việc cầu phước đức mà nên. Chùa chiền hơn 10 ngôi, tăng tín đồ hơn 1.000 người. Họ theo Tiểu thừa giáo thuộc Thuyết Xuất Thế Bộ”.
(trang 47, 48).
~ Đọc đoạn dịch trên đây của Thích Như Điển mà tôi rùng ḿnh, như đă rùng ḿnh ở những đoạn dịch trước đây của Thích Như Điển!
Dịch văn th́ hầu hết chẳng phù hợp những ǵ nguyên tác viết, văn th́ nhiều câu rời rạc không đầu, thiếu đuôi, tóm lại là văn Việt ngữ Thích Như Điển viết c̣n chưa xuôi!
Minh Di.
- “Nước Phạm Diễn Na chiều Đông Tây hơn 2000 dặm, chiều Bắc Nam hơn 300 dặm, nằm lọt giữa Tuyết Sơn. Người (nước này) nương theo núi, theo thế núi mà lập Đô ấp. Quốc đô kiến lập trên ghềnh đá, ở vùng sơn cốc, trải dài 6, 7 dặm, mặt Bắc thành dựa vách núi chớn chở. (Thổ sản) có lúa mạch, ít cây trái. Thích hợp cho việc chăn nuôi, có nhiều dê và ngựa. Khí hậu lạnh lẽo, tính t́nh cứng cỏi, hung hăn! (Dân cư) đa số mặc áo da, đây cũng là để thích nghi với khí hậu. Văn tự, phong tục và sự giáo hóa, tiền tệ như nước Đổ Hóa La, ngôn ngữ có khác đôi chút, (và) khuôn mặt nh́n chung là giống. Về ḷng tin th́ hơn các nước láng giềng xa, trên từ Tam Bảo, dưới tới các Thần thánh không vị nào mà dân ở đây không biểu lộ sự thành tâm, hết ḷng sùng kính! Và với các thương buôn qua lại, thiên thần xuất hiện là (một) điềm lành, và là (một) thị hiện của sự biến hóa cao siêu, (là cơ hội) cho họ cầu phúc đức.
Chùa th́ có mấy chục chỗ, tăng chúng mấy ngàn người, theo phái Thuyết Xuất Thế Bộ của Tiểu Thừa”.
+ Những cái Sai của Thích Như Điển.
~ Trước hết, về phiên âm, Thích Như Điển đă ghi sai âm đọc tên của Quốc gia đề cập ở đây. Tên Quốc gia ở đây là Phạm Diễn Na, Thích Như Điển ghi là Phạm Hạnh Na.
Chữ “Diễn” ở đây cũng là chữ “Diễn” trong tên Quốc gia Xích Ngạc Diễn Na mà Thích Như Điển đă đọc sai trước đây.
~ Tuyết Sơn là tên riêng, Thích Như Điển dịch là “núi tuyết” th́ không sai, nhưng dịch như vậy th́ hóa ra hàm hồ, v́ núi tuyết th́ có bao nhiêu là núi tuyết, núi tuyết nào đây?
~ Từ câu “người người hay sống trong hang động........... cho tới hết đoạn văn trên đây Thích Như Điển dịch hầu như sai hoàn toàn!
Tôi xin nêu một vài cái sai trong đoạn dịch nói trên của Thích Như Điển:
~ Nguyên tác: “Nhân y sơn cốc, trục thế ấp cư. Quốc Đại đô thành cứ nhai khóa cốc, trường lục, thất lí, Bắc bối cao nham”.
- “Người [nước này] nương theo núi, theo thế núi mà lập đô ấp. Quốc đô kiến lập trên ghềnh đá, ở vùng sơn cốc, trải dài 6, 7 dặm, mặt Bắc thành dựa vách núi chớn chở”.
Thích Như Điển dịch: “Người người hay sống trong hang động. Đô thành đa phần cũng là động đá. Chiều dài 67 dặm. Phía bắc rất cao”. - Tầm bậy tầm bạ quá đi!
~ Nguyên tác: “Bắc bối cao nham” (Mặt Bắc thành dựa vách núi cao).
Thích Như Điển dịch bậy là “Phía bắc rất cao”.
~ Nguyên tác: “Khí tự hàn liệt” (Khí hậu lạnh lẽo).
Thích Như Điển dịch là “Khí hậu lạnh” không thôi th́ chưa diễn tả hết được cái lạnh.
~ Nguyên tác: “Phong tục cương quảng” (Tính t́nh cứng cỏi, hung hăn).
Thích Như Điển dịch là “Phong tục tốt đẹp” th́ phải nói là bậy bạ quá đi!
~ Nguyên tác: “Đa ư b́ hạt, dịch kỳ sở nghi”.
- “[Dân cư] đa số mặc áo da, đây cũng là để thích nghi với khí hậu”.
Một câu hết sức dễ, vậy mà Thích Như Điển dịch là “Đa phần ăn mặc kín đáo”.
Câu “kỳ sở nghi” ở đoạn trên Thích Như Điển không hiểu, bởi thế đă dịch lếu láo đến không thể tưởng là “Lễ nghi đại khái giống nhau”.
~ Nguyên tác” “Văn tự, phong giáo” (Văn tự, phong tục và sự giáo hóa).
Thích Như Điển dịch hết sức bậy là:
- “Chữ nghĩa, phong tục do sự giáo hóa mà thành”.
Tiếng “Phong giáo” là chữ ghép của 2 tiếng “Phong tục” và “Giáo hóa”, Thích Như Điển và ông Thích Đồng Văn mà Thích Như Điển khoe là “biết nhiều chữ Hán” lại mù mờ để rồi cả đám dịch một cách rất “ngu ngơ” như trên!
Từ điển Từ Nguyên giảng tiếng “Phong giáo” như sau:
- “[Phong giáo]. Phong tục, giáo hóa”.
4 chữ trên đi liền với những chữ sau đó thành một câu:
- “Văn tự, phong giáo, hóa tệ chi dụng đồng Đổ Hóa La Quốc”.
Có thể thấy 4 chữ “Văn tự, phong giáo” chưa thành một Câu, cả 2 ông “Thích” trên đây v́ “biết nhiều chữ Hán” quá, bởi thế cũng “nhiều” luôn óc tưởng tượng để biến những chữ này thành một câu, một câu để lộ 2 cái óc tưởng tượng thật ng. ng.
Càng dịch cái ba láp, cái lếu láo của Thích Như Điển càng lớn hơn, do đó, cái lố bịch của một con người càng lộ rơ hơn:
~ Nguyên tác: “Thuần tín chi tâm đặc thậm lân quốc”.
- “Về ḷng tin thuần thành (nơi Tông giáo) th́ hơn các nước láng giềng rất xa”.
Vậy mà Thích Như Điển lại dịch hết sức bậy bạ như sau:
- “Có ḷng tin cũng giống như nước láng giềng”.
Sai đến cả ngàn dặm!
~ Nguyên tác nói “thượng tự Tam Bảo, hạ chí bách Thần, mạc bất thâu thành kiệt tâm tông kính”.
- “trên từ Tam Bảo, dưới tới các Thần thánh không vị nào mà dân ở đây không biểu lộ sự thành tâm, hết ḷng sùng kính!”.
Thích Như Điển dịch câu trên đây là:
- “Trên cũng kính Tam Bảo, dưới cho đến thần dân không bị mất cướp, thành thật, tâm địa tôn kính”.
+ Thần dân nào ở đây “không bị mất cướp”? ăn cướp nào ở đây, Thích Như Điển?
Duyệt nguyên tác th́ có thể thấy các tiếng “ăn cướp”, “thần dân” ở đây Thích Như Điển đă dịch từ 2 tiếng “bách thần” và “thâu thành”.
Bách Thần, chữ Thần ở đây là “Thần thánh, Thần linh”.
Chữ “Thần” là “Bề tôi” viết khác!
Thâu thành có nghĩa là biểu lộ thành tâm.
+ Thích Như Điển bởi Hán văn lem nhem cho nên đă lẫn lộn, đă không nhận biết được chữ “Thâu” (ăn trộm) thuộc bộ Nhân (người), v́ vậy mới có chuyện “mất cướp” ở đây!
Trong khi chữ “Thâu” trong nguyên tác ở đây viết với bộ Xa (xe) ở đây có một số nghĩa là “chuyển vận. hiến nạp. thất bại, thua”.
Thích Như Điển dịch, Thích Đồng Văn, Thích Hạnh Giới hụ hợ trợ dịch làm cho tôi đây khiếp hăi quá! Như Phật trên bàn thờ đây đọc được chắc cũng nhảy xuống quá!
Nhưng “Ngă Phật từ bi” cho nên sẽ nói với Thích Như Điển là “Hồi đầu thị Ngạn”.
Thích Như Điển buông cái Tâm “Hám Danh”, cái tâm “Tham” rồi sẽ thấy Bờ!
+ Thích Như Điển buông cái Tâm “Hám Danh”, muốn thiên hạ, muốn đệ tử của ḿnh nghĩ ḿnh, nghĩ thầy ḿnh, là một người tinh thâm Hán văn - Thích Như Điển nếu chịu dứt trừ cái tâm này đi rồi sẽ thấy Bờ, Thích Như Điển!
~ Nguyên tác : “Thương cổ văng lai giả, thiên thần hiện trưng tường, thị sùng biến, cầu phúc đức”.
- “Và với các thương buôn qua lại, thiên thần xuất hiện là (một) điềm lành, và là (một) thị hiện của sự biến hóa cao siêu, (là cơ hội) cho họ cầu phúc đức”.
Thích Như Điển lại dịch hết sức bậy bạ là - “Thiên thần thường hay xuất hiện. Đó là do sự biến hóa của việc cầu phước đức mà nên”.
Tiếp liền theo đoạn trên, “Tây Vực Kư” chép:
- “Vương thành đông bắc sơn a hữu lập Phật thạch tượng, cao bách tứ, ngũ thập xích, kim sắc hoảng diệu, bảo sức hoán lạn! Đông hữu già lam, thử quốc tiên vương chi sở kiến dă. Già lam Đông hữu thu thạch Thích Ca Phật lập tượng, cao bách dư xích, phân thân biệt chú, tổng hợp thành lập.
Thành Đông nhị, tam lí già lam trung hữu Phật nhập Niết bàn ngọa tượng, trường thiên dư xích. Ḱ vương mỗi thử thiết Vô già Đại hội, thượng tự thê tử, hạ chí quốc trân, Phủ khố kư khuynh, phục dĩ thân thí! Quần quan liêu tá, tựu tăng thù thục. Nhược thử giả dĩ vi sở vụ hĩ!”.
Thích Như Điển dịch như sau:
- “Vương thành phía đông bắc gần núi có tượng Phật đá đứng cao 145 mét. Màu sắc vàng, trang sức bằng những loại đá quư. Phía đông có Già Lam do Tiên đế đă kiến tạo nên. Tiếp đó có tượng Thích Ca bằng đá đứng cao hơn 100 thước. Phân thân đứng riêng biệt để thành một quần thể như thế.
Thành phía đông có 23 dặm. Giữa chùa có tượng Phật nhập Niết Bàn nằm, chiều dài 100 thước. Vua nước này thường thiết lễ cầu siêu. Trên từ vợ con, dưới đến thần dân đều lấy của trong kho của Vua, đem ra bố thí. Quần thần, tả hữu cũng làm việc đó như là một nhiệm vụ”.
(trang 48).
Minh Di.
- “Ở ven núi phía Đông bắc Vương thành có Tượng Phật đứng bằng đá, cao (khoảng) 140, 150 thước, sắc vàng chói lọi, các vật quí rỡ ràng tô điểm tượng Phật! Ở mặt Đông Tượng Phật có ngôi Chùa, Chùa này do vua đời trước kiến tạo. Ở phía Đông chùa có tượng Phật Thích Ca đứng bằng đồng vàng, cao hơn 100 thước, các bộ phận của tượng được đúc riêng rồi ráp lại thành Tượng.
Trong một ngôi Chùa cách (Vương) Thành 2, 3 dặm về phía Đông có Tượng Phật nằm nhập Niết bàn, dài hơn 1,000 thước! Vua nước này thường cử hành Đại hội Vô già tại nơi này, trên từ vợ con, dưới tới những vật quí của quốc gia, chẳng những là các Kho của các Phủ đă dốc hết ra, mà c̣n lấy thân ḿnh để bố thí! Quan liêu và các thuộc cấp đều tới gặp tăng để chuộc thân ḿnh! Những việc như vậy, tất cả đều coi như việc làm của ḿnh”.
[Phụ chú.
Nguyên tác: “Già lam Đông hữu thu thạch Thích Ca Phật lập tượng”.
- “Ở phía Đông chùa có tượng Phật Thích Ca đứng bằng đồng vàng”.
Chú thích chữ “thu thạch”, Quí Diễn Lâm viết:
- “Thu thạch: Tức hoàng đồng. “Thu” đa bán thị A lập bá - Ba tư ngữ trung chi tūtiya, Phạn văn tác tuttha, Thạch tự năi Hán ngữ sở gia, tham khán Lao Phí Nhĩ (B. Laufer) “Trung Quốc Y Lang Biên”, Lâm Vân Nhân dịch, Thương Vụ Ấn Thư Quán, 1964 niên hiệt 340 - 344.
Thu thạch, “Phạn Ngữ Tạp Danh” tác Lí Để (riti),
“Tây Vực Kư” trung đa thứ đề đáo Thu thạch Phật tượng, tự thị độ thượng chân thu. Quyển Nhị vân: - “Nhược phù Kim, Ngân, Thu thạch, Bạch thạch, Hỏa chu, phong thổ sở sinh”.
Tŕnh Đại Xương “Diễn Phiền Lộ”: - “Thế hữu Thu thạch giả, thực vi Đồng, sắc như hoàng kim”.
“Cách Cổ Yếu Lăm”: - “Thu thạch, tự nhiên Đồng chi tinh dă. Kim Lô cam thạch luyện thành giả, giả Thu dă! Thôi Phưởng viết Đồng nhất cân, Lô cam thạch nhất cân luyện chi thành Thu đồng. CHÂN THU THẠCH sinh BA TƯ QUỐC giả như hoàng kim, thiêu chi xích sắc bất thoái”.”.
Dịch:
- “Thu thạch: Tức Đồng vàng. Chữ “Thu” phần lớn trong tiếng Á rập - Ba tư là tūtiya, tiếng Phạn là tuttha, chữ Thạch là Hán ngữ thêm vào, xin coi Lao Phí Nhĩ (B. Laufer) trong “Trung Quốc Y Lang Biên”, Lâm Vân Nhân dịch, Thương Vụ Ấn Thư Quán, năm 1964, các trang: 340 -344. Thu thạch, cuốn “Phạn Ngữ Tạp Danh” ghi là Lí Để (riti).
Trong “Tây Vực Kư” nhiều lần đề cập tượng Phật bằng Đồng vàng, h́nh như được mạ với Đồng vàng thuần. Quyển II ghi: - “Những thứ Vàng, Bạc, Đồng vàng, Bạch thạch, Hỏa chu, đều do đất đai sinh ra”.
Tập “Diễn Phiền Lộ” của Tŕnh Đại Xương (nói): - “Trên đời có thứ Thu thạch, thực ra đây là Đồng, sắc như Vàng”.
Tập “Cách Cổ Yếu Lăm”: - “Thu thạch là Đồng tinh thuần trong thiên nhiên. Hiện nay thứ Đồng luyện thành từ Lô cam thạch là thứ Đồng vàng giả! Thôi Phưởng nói 1 Cân Đồng, 1 Cân Lô cam thạch th́ luyện thành Đồng vàng. ĐỒNG VÀNG THẬT xuất từ nước BA TƯ sắc như Vàng, nung th́ sắc đỏ không biến”.
(Lô cam thạch tức ZnCO3. Minh Di).
+ Những cái Sai của Thích Như Điển.
~ Nguyên tác: “Sơn a” nghĩa là “ven núi”, Thích Như Điển dịch là “gần núi”.
~ Nguyên tác: “cao bách tứ, ngũ thập ngũ xích” (“cao [khoảng] 140, 150 thước”).
Thích Như Điển dịch là “cao 145 mét”. Thích Như Điển, “Xích” không phải là “Mét”!
Như đă biết, 1 xích thời Đường = 0.311 m.
Tượng Phật cao 140, 150 xích là cao:
0.311 m x 140 = 43.54 m. và 0.311 m x 150 = 46.65 m.
Tức Tượng Phật bằng đá ở đây cao trong khoảng từ 43.54 m đến 46.65 m.
~ Nguyên tác nói Tượng Phật bằng đá sắc vàng tức ư nói Tượng được sơn phết vàng có sắc chói lọi (hoảng diệu). Thích Như Điển đă không dịch 2 chữ “hoảng diệu” này!
~ Nguyên tác nói những vật quí dùng để tô điểm tượng Phật bằng đá trong đoạn dẫn ở đoạn trên tỏa ánh sáng ngời (hoán lạn), Thích Như Điển cũng thiếu cái “hoán lạn” này!
Lại nữa, nguyên tác chỉ nói chung chung những vật quí tô điểm Tượng Phật đá - mà không hề xác định là “những loại đá quư” như Thích Như Điển dịch láo, bậy! Đá lượm ở đâu đây, Thích Như Điển?
~ Nguyên tác nói ở phía Đông của Tượng Phật bằng đá có ngôi Chùa, và rồi cũng ở về phía Đông ngôi Chùa này lại có Tượng Phật bằng đồng vàng (thu thạch)!
Nguyên tác: “Già lam Đông hữu thu thạch Thích Ca Phật lập tượng”.
Thích Như Điển dịch bậy là “Tiếp đó có tượng Thích Ca bằng đá”.
Rơ ràng là “ở phía Đông Chùa có tượng Phật Thích Ca đứng bằng đồng vàng ”, tác giả đă viết rơ ràng như thế! Thích Như Điển nói ḿnh dịch Bộ “Đại Đường Tây Vực Kư” từ bản Hán văn. Thế nhưng, dịch như kiểu Thích Như Điển trên đây th́ tôi đến không rơ Thích Như Điển dịch theo bản Hán văn nào đây?
~ Nguyên tác nói “phân thân biệt chú, tổng hợp thành lập”.
Như tôi dịch ở trên, “các bộ phận của tượng được đúc riêng rồi ráp lại thành Tượng”.
Nhưng, Thích Như Điển lại dịch ba láp, bậy bạ là: “Phân thân đứng riêng biệt để thành một quần thể như thế”.
- “Phân thân đứng riêng biệt” như thế nào đây, Thích Như Điển? “Qu̐